Tuyển tập 15 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn các Trường THPT tại Quảng Trị 2025-2026 (Kèm đáp án)
Bạn đang xem 25 trang mẫu của tài liệu "Tuyển tập 15 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn các Trường THPT tại Quảng Trị 2025-2026 (Kèm đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
tuyen_tap_15_de_thi_thu_tot_nghiep_thpt_mon_ngu_van_cac_truo.docx
Nội dung text: Tuyển tập 15 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn các Trường THPT tại Quảng Trị 2025-2026 (Kèm đáp án)
- - Trưởng thành: là quá trình con người phát triển, hoàn thiện nhận thức, cảm xúc và nhân cách. - Đau đớn: những tổn thương tinh thần, thất bại, mất mát, áp lực, sai lầm mà con người phải trải qua. - Thử thách: những khó khăn, chông gai buộc con người phải nỗ lực vượt lên. - Ý nghĩa khái quát: Đau đớn và thử thách là chất liệu làm nên sự trưởng thành và vẻ đẹp trong câu chuyện cuộc đời mỗi người trẻ. b3. Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận. - Phân tích, chứng minh được đau đớn và thử thách là yếu tố giúp người trẻ 1,0 trưởng thành: + Chỉ khi vấp ngã, người trẻ mới biết cách đứng dậy, rèn bản lĩnh và kiên cường hơn. + Nỗi đau dạy con người biết trân trọng hạnh phúc, biết cảm thông với người khác. + Những thất bại là bài học thực tế quý giá hơn bất kỳ lời giảng nào. - Phân tích, chứng minh được chính đau đớn và thử thách làm nên giá trị và ý nghĩa của sự trưởng thành: + Trưởng thành không phải là điều dễ dàng mà là cả một quá trình nỗ lực và mạnh mẽ để vượt lên những đau đớn và thử thách. Nỗ lực càng lớn thì thành quả càng có giá trị. + Chính đau đớn và thử thách làm nên chiều sâu và vẻ đẹp của sự trưởng thành. b4. Mở rộng, nâng cao được vấn đề nghị luận và rút ra bài học - Mở rộng, nâng cao vấn đề nghị luận 0,5 + Có người trẻ ngại khó, sợ đau, dễ bỏ cuộc, nên không thể trưởng thành thật sự. + Lại có người chấp nhận đau đớn để vươn lên, biến nỗi buồn thành sức mạnh – đó mới là bản lĩnh của tuổi trẻ. + Mỗi thử thách là một câu chuyện đẹp nếu người trẻ biết đón nhận - Rút ra bài học, liên hệ bản thân + Dám đối diện với khó khăn, thất bại, không trốn tránh thực tế. + Giữ niềm tin và lòng kiên định trong hành trình theo đuổi ước mơ. b5. Sáng tạo - Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục. 0,5 - Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo. Tổng 10,0
- ĐỀ SỐ 3 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Trường:........................................... MÔN: NGỮ VĂN Lớp:................................................ Thời gian làm bài:..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản: [ ] Mùa xuân có thể định nghĩa là mùa mà toàn bộ cây nở thành hoa. Những ngọn đồi phía tây nam Huế bừng lên trong hương hoa cỏ, khiến người ta không thể ngồi yên cúi mặt lên trang sách. Hương cỏ tràn vào thành phố, như gần như xa, khiến tôi nghĩ rằng ở đâu đấy trên những sườn đồi, cánh cửa của vườn Địa Đàng đang mở ra, hoặc những nàng tiên đang múa hát dưới những gốc đào nở hoa, với mùi hương bát ngát như thể mùi tóc bay trong những chiều gió. Cỏ mọc ven những con đường trong thành phố, trên đó lưa thưa những chòm cây dại, như cây hoa ngũ sắc cười sặc sỡ dọc đường thơ ấu của tôi. [ ] Ôi! tôi muốn làm Liệt Tử cưỡi gió mà đi khắp nơi trên thành phố kinh xưa của tôi, thành phố nằm phơi mình giữa non xanh nước biếc, tỏa rộng linh hồn vô ưu thênh thênh trong hương cỏ. Mùa xuân về, mặt đất công viên sáng bừng lên bởi ngàn vạn bông cỏ tím, mỗi bông cỏ lại ngậm trong lòng một hạt sương mai khiến vào buổi sáng sớm, cỏ ở ven sông Hương lấp lánh như những hạt ngọc. Những cô sinh nữ từng rủ nhau ra đấy ngồi chơi trên vạt cỏ; lâu ngày tâm hồn họ nhiễm phải căn bệnh trầm uất, sinh ra bởi những bụi phấn tím của bông cỏ mùa xuân. Một chút u hoài đã kết tinh trong đôi mắt khiến từ đó họ trở nên dè chừng với những cuộc vui trong đời, và dưới mắt họ, những trò quyến rũ đối với thế nhân tự nhiên nhuốm chút màu ảm đạm của cái mà bà Huyện Thanh Quan khi xưa gọi là "hý trường". Mùa xuân, tự nhiên tôi muốn gác hết mọi việc bận rộn để lên rong chơi trên những đồi cỏ gần vùng mộ Vua. Ở đó tôi có thể nằm ngửa mặt trên cỏ, ngước mắt nhìn chùm hoa lê nở trắng muốt trên cao. Tôi đã tìm đến định sống ở nhiều đô thị bắc nam; ở đó tôi có thể tìm thấy mọi cái cần cho cuộc sống của tôi, chỉ thiếu một cái mà tôi không chịu nổi, là thiên nhiên. (Trích Miền cỏ thơm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tạp chí sông Hương, số 179-180 (Tháng 1-2), 07/07/2009) Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5: Câu 1. Xác định nhân vật trữ tình trong văn bản. Câu 2. Chỉ ra hai chi tiết thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên mùa xuân xứ Huế trong văn bản. Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn sau: Mùa xuân về, mặt đất công viên sáng bừng lên bởi ngàn vạn bông cỏ tím, mỗi bông cỏ lại ngậm trong lòng một hạt sương mai khiến vào buổi sáng sớm, cỏ ở ven sông Hương lấp lánh như những hạt ngọc. Câu 4. Nhận xét về cái tôi của tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường được thể hiện qua văn bản. Câu 5. Từ cảm nhận về vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế qua văn bản, anh/chị hãy trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc con người tìm đến thiên nhiên trong nhịp sống hiện đại. II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm)
- Anh/Chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích những đặc sắc về nghệ thuật của văn bản ở phần Đọc hiểu. Câu 2 (4,0 điểm) Có người cho rằng: “Năng lực thích ứng quyết định bạn tồn tại như thế nào trong thế giới biến động.” Từ ý kiến trên, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về khả năng thích ứng của giới trẻ trong thời đại mới.
- HƯỚNG DẪN CHẤM Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC HIỂU 4,0 - Giám khảo đánh giá bài làm của thí sinh theo các yêu cầu cần đạt về đọc hiểu văn bản nghị luận của Chương trình Ngữ văn 2018. - Bài làm chỉ cần trả lời ngắn gọn, đúng yêu cầu trọng tâm của các câu hỏi đọc hiểu; chấp nhận cách trình bày gạch đầu dòng các ý cần nêu. 1 Nhân vật trữ tình trong văn bản: “tôi” 0,5 2 Những chi tiết trong văn bản thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên mùa xuân xứ Huế: 0,5 - “Những ngọn đồi phía tây nam Huế bừng lên trong hương hoa cỏ” - “Cỏ ở ven sông Hương lấp lánh như những hạt ngọc” - “Chùm hoa lê nở trắng muốt trên cao” 3 - Biện pháp tu từ so sánh: “cỏ ở ven sông Hương lấp lánh như những hạt ngọc” 1,0 - Tác dụng: + Tăng sức gợi hình, gợi cảm và sự sinh động cho lời văn + Làm nổi bật vẻ đẹp tươi sáng, trong trẻo, lung linh của thiên nhiên mùa xuân xứ Huế 4 Cái tôi của tác giả: 1,0 - Tài hoa, uyên bác và giàu trí tưởng tượng - Tâm hồn đa cảm, nâng niu vẻ đẹp của thiên nhiên và kí ức tuổi thơ 5 Từ cảm nhận về vẻ đẹp thiên nhiên xứ Huế qua văn bản, thí sinh trình bày suy nghĩ 1,0 về ý nghĩa của việc con người tìm đến thiên nhiên trong nhịp sống hiện đại. Sau đây là một vài định hướng: - Thiên nhiên xứ Huế đẹp thơ mộng, tinh khôi và giao hòa, gắn bó với con người. - Suy nghĩ về ý nghĩa của việc con người tìm đến thiên nhiên trong nhịp sống hiện đại + Giúp con người giải tỏa căng thẳng, tìm được sự bình yên trong tâm hồn + Nuôi dưỡng cảm xúc, cảm hứng sáng tạo + Nhắc nhở con người ý thức bảo vệ cảnh quan và môi trường II VIẾT 6,0 Giám khảo cần xem xét, đánh giá bài làm của thí sinh theo các yêu cầu cần đạt về viết văn nghị luận của Chương trình Ngữ văn 2018, cụ thể: - Xác định, triển khai và làm sáng tỏ được vấn đề nghị luận theo một cấu trúc chặt chẽ, có mở đầu và kết thúc rõ ràng. - Trình bày rõ quan điểm; hệ thống các luận điểm phù hợp với bố cục đoạn văn hoặc bài văn nghị luận; bảo đảm yêu cầu cả về ý tưởng và hành văn - Lựa chọn được các thao tác nghị luận phù hợp; trình bày, sử dụng các lí lẽ xác đáng và bằng chứng thuyết phục. - Thể hiện được ý tưởng cá nhân, có cách nhìn mang đậm cá tính.
- 1 Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích những đặc sắc nghệ thuật 2,0 của văn bản ở phần Đọc hiểu. a. Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình 0,5 thức, dung lượng - Vấn đề nghị luận: Những đặc sắc nghệ thuật của văn bản ở phần Đọc hiểu (Trích Miền cỏ thơm của Hoàng Phủ Ngọc Tường) - Hình thức: có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp,... - Dung lượng: khoảng 200 chữ. - Ngữ liệu: đoạn trích đã dẫn trong đề. b. Yêu cầu cụ thể: Thí sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận b1. Nêu và phân tích được những đặc sắc nghệ thuật: Ngôn từ giàu sức gợi hình 0,75 và biểu cảm; sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa; kết hợp linh hoạt các phương thức biểu đạt: biểu cảm, miêu tả, tự sự; giọng văn trữ tình, uyển chuyển, giàu nhạc điệu b2. Nêu được tác dụng, giá trị của những đặc sắc nghệ thuật đó: Những đặc sắc 0,5 nghệ thuật ấy góp phần thể hiện tinh tế vẻ đẹp nên thơ của thiên nhiên xứ Huế và tình yêu tha thiết của tác giả đối với mảnh đất cố đô. Từ đó, người đọc cảm nhận rõ phong cách kí tài hoa, mê đắm và giàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng của Hoàng Phủ Ngọc Tường. b3. Sáng tạo 0,25 - Có ý tưởng đột phá, vượt ra ngoài đáp án nhưng có sức thuyết phục. - Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo. 2 Có người cho rằng: “Năng lực thích ứng quyết định bạn tồn tại như thế nào 4,0 trong thế giới biến động.” Từ ý kiến trên, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về khả năng thích ứng của giới trẻ trong thời đại mới. a. Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về dung 1,0 lượng và sử dụng ngữ liệu. - Vấn đề nghị luận: Khả năng thích ứng của giới trẻ trong thời đại mới. - Dung lượng: khoảng 600 chữ. - Hình thức: Đảm bảo hình thức bài văn: MB-TB-KB - Yêu cầu cụ thể: Thí sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận. - Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận xã hội 0,5 + Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận. + Kết bài: Khẳng định được ý nghĩa của vấn đề b2. Giải thích: Thích ứng là khả năng thay đổi suy nghĩ, hành vi, cảm xúc để phù 0,5 hợp với hoàn cảnh mới. b3. Bàn luận, chứng minh làm sáng tỏ vấn đề 1,0
- + Trong thời đại mới, thế giới biến động và thay đổi nhanh chóng về mọi mặt (xã hội, kinh tế, khoa học, công nghệ, môi trường, việc làm ) thì khả năng thích ứng trở thành một kĩ năng thiết yếu, đặc biệt đối với giới trẻ (kết hợp dẫn chứng). + Thích ứng với sự thay đổi giúp giới trẻ sống phù hợp với hoàn cảnh, vượt qua áp lực và thách thức để phát triển bản thân, mở rộng cơ hội nghề nghiệp trong những điều kiện mới; góp phần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội (kết hợp dẫn chứng). + Để có năng lực này, người trẻ cần phải chủ động học hỏi, cập nhật tri thức và công nghệ; sẵn sàng thay đổi kế hoạch, điều chỉnh hướng đi và chấp nhận những rủi ro khi thay đổi; linh hoạt trong giao tiếp, làm việc nhóm, môi trường đa văn hóa; biết quản trị cảm xúc, vượt qua khó khăn và luôn nhìn sự thay đổi theo hướng tích cực (kết hợp dẫn chứng). b4. Mở rộng vấn đề, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác. 0,25 b5. Rút ra bài học nhận thức và hành động. 0,25 b6. Sáng tạo 0,5 - Có những ý đột phá, vượt ra ngoài đáp án nhưng có sức thuyết phục. - Có cách diễn đạt tinh tế, truyền cảm, độc đáo. Tổng điểm 10
- ĐỀ SỐ 4 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Trường:........................................... MÔN: NGỮ VĂN Lớp:................................................ Thời gian làm bài:..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: TRÍCH CẢNH 3 (Phòng giám đốc) Việt đứng sau bàn làm việc, ngồi trước anh là Lê Sơn, Nguyễn Chính, Thanh, ông Quých, Dũng, bà Bộng, anh công nhân râu quai nón, các trưởng phòng và Quản đốc các phân xưởng. HOÀNG VIỆT: (Chỉ một cô gái) Cô Loan kế toán trưởng phòng tài vụ, hãy chuẩn bị cho công nhân lĩnh lương mới từ tháng tới. LOAN: Sao ạ? Lương mới? HOÀNG VIỆT: Lương khoán theo sản phẩm. Chúng tôi đã định lại giá khoán, mở rộng lương khoán và biết chắc chắn rằng: nếu trả lương khoán, năng suất của mỗi công nhân sẽ tăng gấp năm, sẽ không ai phải lo bện thừng gia công kiếm thêm nữa. Mức sản phẩm của xí nghiệp sẽ tăng ít nhất gấp năm, đương nhiên lương của công nhân viên xí nghiệp ta sẽ phải tăng ít ra là bốn lần. (Mọi người xôn xao) NGUYỄN CHÍNH: Đồng chí giám đốc, sản xuất tăng gấp năm mới chỉ trên dự tính. Chúng ta chưa làm được, đã vội lĩnh lương cao sao? HOÀNG VIỆT: Với số lương tối thiểu ấy người công nhân mới có thể sống mà không chết đói, không làm bậy. Muốn tăng sản xuất phải đầu tư. Khâu cần đầu tư trước tiên là con người. Đến cái máy cũng phải có đủ nhiên liệu mới làm việc được. (Với mọi người) Và phải làm ra trò! Cái dở lâu nay của chúng ta là: người chăm và kẻ lười được đối xử như nhau, người tài năng và kẻ dốt nát đều hưởng chung một quyền lợi, thậm chí có những kẻ không làm gì cả, chỉ ngồi phán thôi lại được vì nể hơn những người đã vất vả cống hiến. Xã hội chủ nghĩa gì mà lạ thế? Không, từ nay ai càng làm được nhiều sản phẩm sẽ phải được hưởng lương cao, ai làm tồi sẽ bị phạt bằng tiền, đó sẽ là nguyên tắc của xí nghiệp chúng ta! (Mọi người hoan hô rầm rộ) BÀ TRƯỞNG PHÒNG TÀI VỤ: Nhưng, thưa đồng chí giám đốc, các nguyên tắc ấy dựa trên văn bản nào vậy? HOÀNG VIỆT: Văn bản do tôi và các đồng chí thảo ra. BÀ TRƯỞNG PHÒNG TÀI VỤ: Thật ra chưa hề có các nguyên tắc như thế, chưa hề có. HOÀNG VIỆT: Thì bây giờ chúng ta sẽ đặt ra, có sao đâu! Miễn là nó giúp chúng ta làm thêm được nhiều sản phẩm. Tất cả phải tạo mọi thuận lợi cho người trực tiếp sản xuất. Số cán bộ nhân viên gián tiếp phải giảm tới mức tối thiểu. (Trích Tôi và chúng ta, Tuyển tập kịch Lưu Quang Vũ, NXB Sân khấu, 2013, tr.124) Trả lời các câu hỏi sau: Câu 1. Nội dung đoạn trích đề cập đến vấn đề gì? Câu 2. Xác định xung đột trong đoạn trích.
- Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp đối trong câu sau: “Cái dở lâu nay của chúng ta là: người chăm và kẻ lười được đối xử như nhau, người tài năng và kẻ dốt nát đều hưởng chung một quyền lợi, thậm chí có những kẻ không làm gì cả, chỉ ngồi phán thôi lại được vì nể hơn những người đã vất vả cống hiến.” Câu 4. (1,0 điểm) Câu nói: “Khâu cần đầu tư trước tiên là con người. Đến cái máy cũng phải có đủ nhiên liệu mới làm việc được” được hiểu như thế nào? Câu 5 (1,0 điểm) Từ tư tưởng đổi mới trong đoạn trích, anh/chị hãy liên hệ với thực tiễn cuộc sống hiện nay để rút ra một bài học cho bản thân trong học tập hoặc lao động. II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Anh/Chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận về đoạn thơ sau: ...Và chúng tôi, một thứ quả trên đời Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi Mình vẫn còn một thứ quả non xanh? (Trích Mẹ và quả, Nguyễn Khoa Điềm) Câu 2. (4,0 điểm) Trước thềm năm học mới, Tổng Bí thư Tô Lâm dặn dò học sinh rằng: Thế hệ cha ông đã làm nên chiến thắng bằng máu xương, hôm nay, trong hòa bình,hội nhập và khát vọng vươn lên, trách nhiệm của thế hệ các cháu là phải làm nên chiến thắng mới bằng tri thức - bản lĩnh - sáng tạo. (Trích Bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm sáng 5/9/2025 tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngành giáo dục và khai giảng năm học 2025-2026 - nguồn Với tư cách là một người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về lời dặn dò của Tổng Bí Thư Tô Lâm.
- HƯỚNG DẪN CHẤM Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC HIỂU 4,0 - Giám khảo đánh giá bài làm của thí sinh theo các yêu cầu cần đạt về đọc hiểu văn bản nghị luận của Chương trình Ngữ văn 2018. - Bài làm chỉ cần trả lời ngắn gọn, đúng yêu cầu trọng tâm của các câu hỏi đọc hiểu; chấp nhận cách trình bày gạch đầu dòng các ý cần nêu. 1 Nội dung đoạn trích đề cập đến vấn đề: đổi mới trong quản lý sản xuất 0,5 của xí nghiệp. 2 Xung đột trong đoạn trích: giữa tư tưởng đổi mới, nâng cao hiệu quả sản xuất của 0,5 Hoàng Việt và quan niệm cũ của một số cán bộ chưa muốn thay đổi, lo lắng về việc trả lương cao trước khi đạt năng suất thực tế (Nguyễn Chính, bà trưởng phòng tài vụ). 3 - Biện pháp nghệ thuật đối lập: Giữa các cặp hình ảnh: 1,0 + Người chăm ↔ Kẻ lười, + Người tài năng ↔ Kẻ dốt nát. + Người cống hiến ↔ Kẻ không làm gì cả. - Tác dụng: + Tố cáo sự bất công, phi lý trong cách đánh giá, phân phối lao động trước đây. + Nhấn mạnh sự cần thiết phải thay đổi, đề cao công bằng và năng suất lao động. + Tạo tính đăng đối, sinh động cho câu nói. 4 - Giải thích câu nói: 1,0 + Khẳng định vai trò trung tâm của con người trong sản xuất. + “Đầu tư cho con người” chính là đầu tư cho động lực phát triển; người lao động cần được đảm bảo đời sống vật chất để có thể cống hiến và sáng tạo. 5 - Liên hệ: Trong học tập và lao động hiện nay, dù trang thiết bị đã rất hiện đại, 1,0 nhưng nếu con người không nỗ lực, sáng tạo, phát triển kĩ năng làm việc thì sẽ không thể đạt kết quả cao. - Bài học rút ra: Mỗi người phải nỗ lực, chủ động, sáng tạo không ngừng. II VIẾT 6,0 Giám khảo cần xem xét, đánh giá bài làm của thí sinh theo các yêu cầu cần đạt về viết văn nghị luận của Chương trình Ngữ văn 2018, cụ thể: - Xác định, triển khai và làm sáng tỏ được vấn đề nghị luận theo một cấu trúc chặt chẽ, có mở đầu và kết thúc rõ ràng. - Trình bày rõ quan điểm; hệ thống các luận điểm phù hợp với bố cục đoạn văn hoặc bài văn nghị luận; bảo đảm yêu cầu cả về ý tưởng và hành văn - Lựa chọn được các thao tác nghị luận phù hợp; trình bày, sử dụng các lí lẽ xác đáng và bằng chứng thuyết phục. - Thể hiện được ý tưởng cá nhân, có cách nhìn mang đậm cá tính.
- 1 Anh/Chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận về đoạn 2,0 thơ sau: Và chúng tôi, một thứ quả trên đời Bảy mươi tuổi mẹ đợi chờ được hái Tôi hoảng sợ ngày bàn tay mẹ mỏi Mình vẫn còn một thứ quả non xanh? (Trích Mẹ và quả, Nguyễn Khoa Điềm) Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau: a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình 0,5 thức, dung lượng - Vấn đề nghị luận: Tình mẫu tử thiêng liêng - Hình thức: có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp,... - Dung lượng: khoảng 200 chữ. b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng 1,5 đúng các kĩ năng nghị luận. b1. Cảm nhận về đoạn thơ 1,0 Cảm nhận về nội dung đoạn thơ: + Đoạn thơ thể hiện sự nhận thức sâu sắc: con cái là kết tinh của tình yêu, thành quả của đời mẹ; sự kì vọng của mẹ đối với những đứa con. + Đoạn thơ thể hiện tình cảm của người con đối với mẹ: lòng biết ơn sâu nặng, nỗi lo sợ, day dứt khi nhận ra tuổi mẹ đã già, sức mẹ đã yếu mà mình vẫn còn "non xanh", vẫn chưa trưởng thành, chưa đáp đền công ơn sinh thành. - Cảm nhận về nghệ thuật đoạn thơ: - Sử dụng hình ảnh ẩn dụ độc đáo (quả, bàn tay mẹ mỏi). - Giọng thơ chân thành, xúc động, giàu chất triết lí. b2. Đánh giá chung về giá trị của đoạn thơ 0,25 - Đoạn thơ là tiếng lòng chân thực, sâu sắc của người con dành cho mẹ. - Đoạn thơ gợi ra bài học về sự trưởng thành, biết sống xứng đáng với tình yêu thương bao la của mẹ. b3. Sáng tạo 0,25 - Có ý tưởng đột phá, vượt ra ngoài đáp án nhưng có sức thuyết phục. - Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo. 2 Với tư cách là một người trẻ, anh/ chị hãy viết một bài văn (khoảng 600 chữ) 4,0 trình bày suy nghĩ của mình về lời dặn dò của Tổng Bí thư Tô Lâm: Thế hệ cha ông đã làm nên chiến thắng bằng máu xương, hôm nay, trong hòa bình, hội nhập và khát vọng vươn lên, trách nhiệm của thế hệ các cháu là phải làm nên chiến thắng mới bằng tri thức - bản lĩnh - sáng tạo. Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau a. Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về dung 1,0 lượng và sử dụng ngữ liệu.



