Tuyển tập 11 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Sơn La 2021-2026 (Kèm đáp án)
Bạn đang xem 25 trang mẫu của tài liệu "Tuyển tập 11 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Sơn La 2021-2026 (Kèm đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
tuyen_tap_11_de_thi_thu_tot_nghiep_thpt_mon_ngu_van_so_gddt.docx
Nội dung text: Tuyển tập 11 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Sơn La 2021-2026 (Kèm đáp án)
- • Thế hệ mới (“bọn hắn”): thiên về thực tế, hiệu quả, vật chất, thị trường, đề cao lợi ích cá nhân và sự rõ ràng trong quan hệ. 2. Về cách ứng xử • Thế hệ cũ: chân tình, cởi mở, sống nặng nghĩa. • Thế hệ mới: lý trí hơn nhưng cũng dễ lạnh lùng, sòng phẳng, ít tha thiết với những quan hệ tình cảm kiểu cũ. 3. Về cách nhìn xã hội • Thế hệ cũ: quen nhìn đời bằng lăng kính đạo đức, lí tưởng, nghĩa tình. • Thế hệ mới: nhìn đời bằng lăng kính kinh tế, thị trường, hiệu quả, quyền lợi. 4. Nguyên nhân của sự khác biệt • Do bối cảnh đất nước bước vào thời kì đổi mới, mở cửa, hội nhập. • Do sự thay đổi của nền kinh tế và cơ chế xã hội. • Do quá trình chuyển đổi giá trị: cái cũ không còn nguyên vẹn, cái mới đang hình thành. 5. Đánh giá • Không nên nhìn nhận một chiều rằng thế hệ cũ hoàn toàn đúng, thế hệ mới hoàn toàn sai. • Thế hệ cũ có những giá trị đẹp cần giữ gìn. • Thế hệ mới có sự năng động, thực tế, dám nghĩ khác. • Vấn đề là phải gạn lọc: giữ lại cái tốt của truyền thống, đồng thời tiếp nhận cái tiến bộ của hiện đại. Kết luận “Chúng tôi và bọn hắn” là cách gọi cho thấy khoảng cách thế hệ, nhưng sâu xa hơn là lời nhắc: mỗi thời đều có giá trị và giới hạn riêng, con người cần tỉnh táo để không đánh mất mình trong dòng biến động của thời đại. II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Dàn ý ngắn Mở đoạn • Giới thiệu nhân vật anh con trai: đại diện cho lớp người trẻ trong thời kì mới. Thân đoạn • Ngoại hình, tác phong hiện đại, thành đạt: com-lê, cà vạt, kính màu, dáng vẻ như thương nhân. • Là người thực dụng, đề cao thị trường, tiền bạc, hiệu quả. • Có cái nhìn thẳng, sắc sảo, không nể nang. • Nhưng cũng bộc lộ sự lạnh lùng, khô cứng, làm tổn thương cha mẹ, thiếu sự tinh tế trong ứng xử. • Là hình ảnh tiêu biểu cho sự va chạm giữa giá trị cũ và mới. Kết đoạn • Nhân vật vừa đáng phê phán, vừa gợi suy ngẫm về một lớp người mới trong xã hội chuyển mình. Đoạn văn mẫu Nhân vật anh con trai của vợ chồng người bạn thân của nhân vật “tôi” là hình ảnh tiêu biểu cho lớp người trẻ trong thời buổi đổi mới. Trước hết, đó là một con người hiện đại, thành đạt, tự tin, thể hiện ngay ở vẻ ngoài “comlê đen sọc, càvát, kính màu, chăn râu xanh mướt như một thương nhân ngoại quốc”. Không chỉ khác về dáng vẻ, anh còn khác về quan niệm sống: đề cao tiền bạc, thị trường, hiệu quả thực tế; xem
- đó là quy luật “bất biến” để ứng xử với cuộc đời. Ở anh có sự sắc sảo, thẳng thắn, dám nói, dám chất vấn những điều cũ kĩ, kể cả với người lớn tuổi hay một nhà văn có tên tuổi. Tuy nhiên, đằng sau vẻ hiện đại ấy là sự lạnh lùng, thực dụng và phần nào khô cứng trong tình cảm. Việc không muốn cha mẹ mời khách bất chợt đã cho thấy lối sống quá rạch ròi, làm nhạt đi nghĩa tình và nếp sống hiếu khách truyền thống. Vì thế, nhân vật này vừa đáng phê phán, vừa khiến người đọc suy nghĩ: trong dòng chảy đổi thay của xã hội, con người cần hiện đại nhưng không được đánh mất sự nhân hậu và tình người. Câu 2 (4,0 điểm) Dàn ý chi tiết 1. Mở bài • Dẫn dắt: xã hội luôn vận động, đất nước muốn phát triển phải đổi mới. • Nêu vấn đề: trong quá trình ấy, cần từ bỏ những giá trị cũ lạc hậu, nhưng cũng không thể tiếp nhận mọi giá trị mới một cách dễ dãi. • Khẳng định: muốn chấn hưng dân tộc phải biết kế thừa và chọn lọc. 2. Thân bài a. Giải thích vấn đề • “Giá trị cũ” lỗi thời: những thói quen, tư tưởng, cách nghĩ, cách làm không còn phù hợp, cản trở sự phát triển. - Ví dụ: bảo thủ, trì trệ, hình thức, tâm lí an phận, thói quan liêu, coi trọng hư danh... • “Giá trị mới”: những điều mới mẻ nảy sinh trong thời đại hội nhập, kinh tế thị trường, công nghệ số. - Ví dụ: sáng tạo, năng động, tư duy mở, hội nhập, cạnh tranh, hiệu quả... • “Gạn lọc”: tiếp nhận có chọn lựa, giữ cái tiến bộ, loại bỏ cái lệch lạc. • “Chấn hưng dân tộc”: làm cho đất nước mạnh lên về kinh tế, văn hóa, đạo đức, bản lĩnh và vị thế. b. Vì sao cần gạt bỏ những giá trị cũ lỗi thời? • Vì cái cũ lạc hậu kìm hãm sự phát triển. • Làm con người chậm đổi mới, sợ thay đổi, không dám sáng tạo. • Khiến bộ máy, tổ chức, xã hội vận hành trì trệ. • Trong học tập và lao động, nếu giữ tư duy cũ sẽ tụt hậu trước thời đại. c. Vì sao cần gạn lọc các giá trị mới? • Không phải cái gì mới cũng đúng, cũng tốt. • Có những giá trị mới tích cực: khoa học, công nghệ, tư duy hội nhập, tác phong chuyên nghiệp, năng lực cạnh tranh. • Nhưng cũng có những biểu hiện tiêu cực đi kèm: - chủ nghĩa cá nhân cực đoan; + chạy theo vật chất; + sống gấp, sống ảo; + vô cảm, thực dụng; + xem nhẹ đạo đức, truyền thống, bản sắc văn hóa. • Nếu tiếp nhận thiếu chọn lọc, con người dễ đánh mất cội nguồn và nhân tính. d. Làm thế nào để vừa bỏ cái cũ lỗi thời, vừa gạn lọc cái mới? • Giữ vững nền tảng đạo đức, văn hóa dân tộc.
- • Đổi mới tư duy giáo dục, quản lí, lao động. • Tiếp thu tri thức, khoa học, công nghệ hiện đại. • Rèn bản lĩnh để phân biệt tiến bộ thật với hào nhoáng bề ngoài. • Mỗi cá nhân, nhất là người trẻ, cần: + học tập không ngừng; + sống trách nhiệm; + hội nhập mà không hòa tan. e. Bàn mở rộng • Phê phán hai thái cực: + bảo thủ, ôm khư khư cái cũ; + sính ngoại, chạy theo cái mới mù quáng. • Chấn hưng dân tộc không chỉ là chuyện của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của từng người dân. 3. Kết bài • Khẳng định lại: dân tộc muốn lớn mạnh phải biết đoạn tuyệt với cái lạc hậu, đồng thời tỉnh táo trước cái mới. • Liên hệ bản thân: người trẻ cần học hỏi, chọn lọc, giữ gìn giá trị tốt đẹp của dân tộc. Bài văn mẫu Trong dòng chảy không ngừng của lịch sử, một dân tộc muốn phát triển không thể đứng yên, càng không thể mãi sống bằng những khuôn mẫu cũ đã lỗi thời. Tuy nhiên, đổi mới không đồng nghĩa với việc phủ nhận sạch trơn quá khứ hay vội vàng ôm lấy mọi điều mới mẻ. Ý kiến: “Để chấn hưng dân tộc” cần gạt bỏ các “giá trị cũ” lỗi thời nhưng cũng cần “gạn lọc” các “giá trị mới” là một nhận định đúng đắn, sâu sắc, gợi ra cách ứng xử tỉnh táo trước quá trình vận động của đời sống. “Giá trị cũ” lỗi thời là những quan niệm, thói quen, lối sống, cách tư duy đã không còn phù hợp với yêu cầu của thời đại. Đó có thể là tâm lí bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới; là bệnh hình thức, hư danh; là cách làm việc thiếu khoa học, thiếu hiệu quả; là tư tưởng khép kín, sợ cạnh tranh, thiếu tinh thần học hỏi. Những điều ấy từng tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nhưng khi hoàn cảnh đã thay đổi, chúng trở thành vật cản trên con đường phát triển. Ngược lại, “giá trị mới” là những yếu tố mới nảy sinh trong quá trình hội nhập và hiện đại hóa như tư duy mở, tinh thần đổi mới sáng tạo, tác phong chuyên nghiệp, năng lực thích ứng, khả năng làm chủ khoa học công nghệ. Nhưng “gạn lọc” các giá trị mới nghĩa là phải biết chọn cái đúng, cái tốt, cái tiến bộ để tiếp nhận; đồng thời loại bỏ những mặt trái, những lệch lạc núp dưới danh nghĩa “mới”. Trước hết, để chấn hưng dân tộc, nhất thiết phải gạt bỏ những giá trị cũ lỗi thời. Một quốc gia không thể đi nhanh nếu con người vẫn bị trói buộc bởi tâm lí cũ kĩ. Một nền giáo dục không thể tiến bộ nếu còn nặng về học thuộc, nhẹ về tư duy. Một bộ máy không thể hiệu quả nếu vẫn tồn tại bệnh quan liêu, trì trệ, né tránh trách nhiệm. Trong đời sống cá nhân cũng vậy, nếu mỗi người chỉ quen an phận, ngại thay đổi, sợ cái mới, thì rất dễ tụt hậu trước một thế giới biến chuyển từng ngày. Vì thế, bỏ cái cũ lạc hậu chính là điều kiện đầu tiên để mở đường cho sự phát triển. Tuy nhiên, gạt bỏ cái cũ không có nghĩa là tôn thờ cái mới một cách mù quáng. Trong thời đại toàn cầu hóa, rất nhiều giá trị mới tràn vào cùng lúc. Bên cạnh những điều tích cực như tư duy hiện đại, công nghệ tiên tiến, phong cách làm việc chuyên nghiệp, vẫn có không ít biểu hiện đáng lo ngại: chạy theo vật chất,
- đề cao lợi ích cá nhân cực đoan, lối sống thực dụng, vô cảm, sính hình thức, xem nhẹ bản sắc văn hóa dân tộc. Không ít người tưởng rằng cứ hiện đại là tốt, cứ khác truyền thống là tiến bộ, nhưng thực tế không phải vậy. Một con người có thể rất năng động mà vẫn thiếu nhân ái; một xã hội có thể rất giàu có mà vẫn khủng hoảng niềm tin nếu đạo đức bị xem nhẹ. Bởi vậy, tiếp nhận cái mới mà không chọn lọc rất dễ khiến con người đánh mất cội nguồn, đánh mất những nền tảng bền vững làm nên sức mạnh dân tộc. Điều quan trọng là phải biết kết hợp hài hòa giữa kế thừa và đổi mới. Dân tộc ta cần giữ gìn những giá trị bền vững như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nghĩa tình, nhân ái, hiếu học, trọng đạo lí; đồng thời mạnh dạn tiếp thu tinh thần khoa học, ý thức kỉ luật, tư duy sáng tạo, năng lực hội nhập của thời đại mới. Người trẻ hôm nay cần học cái mới để không tụt hậu, nhưng cũng cần biết mình là ai, đến từ đâu, phải sống vì điều gì. Hội nhập là để lớn lên, không phải để đánh mất bản sắc. Đổi mới là để phát triển, không phải để trở nên thực dụng và vô cảm. Cũng cần phê phán hai thái cực: một bên là bảo thủ, ôm giữ mọi cái cũ; bên kia là sính ngoại, chạy theo cái mới bất chấp đúng sai. Cả hai thái cực ấy đều nguy hiểm, bởi một bên làm dân tộc trì trệ, một bên làm dân tộc mất gốc. Chấn hưng dân tộc vì thế không chỉ là đổi mới về kinh tế, công nghệ mà còn là tự làm mới mình trên nền tảng những giá trị tốt đẹp đã được thời gian kiểm chứng. Tóm lại, một dân tộc muốn vươn lên mạnh mẽ phải biết từ bỏ cái cũ lỗi thời, đồng thời tỉnh táo sàng lọc cái mới. Đó không chỉ là quy luật phát triển mà còn là đòi hỏi của bản lĩnh văn hóa. Với mỗi người trẻ hôm nay, sống có trách nhiệm, biết học hỏi, biết chọn lọc, biết giữ gốc và biết vươn lên chính là cách thiết thực để góp phần chấn hưng dân tộc.
- ĐỀ SỐ 3 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2026 SƠN LA MÔN: NGỮ VĂN LẦN 3 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản: Các khoa ngoại ngữ trên khắp Trung Quốc đang đối mặt với làn sóng cắt giảm mạnh, khi trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi sâu sắc lĩnh vực dịch thuật. Theo truyền thông, nhiều trường đại học đã tạm dừng tuyển sinh các ngành ngoại ngữ, thậm chí có nơi loại bỏ hoàn toàn chương trình đào tạo này. Xu hướng này diễn ra trong bối cảnh công nghệ AI phát triển nhanh chóng, trong khi nguồn cung nhân lực ngoại ngữ đã rơi vào trạng thái bão hòa. Theo danh mục phê duyệt ngành đào tạo bậc đại học giai đoạn 2018–2022 do Bộ Giáo dục Trung Quốc công bố, có tổng cộng 28 ngành liên quan đến ngoại ngữ bị xóa bỏ tại 109 trường đại học. Các số liệu việc làm phản ánh rõ cuộc khủng hoảng. Theo báo cáo của tổ chức tư vấn giáo dục MyCOS tại Bắc Kinh, tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành ngoại ngữ năm 2023 chỉ còn 76,8%, thấp hơn 5,6% so với mức trung bình toàn quốc. Chỉ 52% sinh viên làm đúng chuyên ngành, buộc gần một nửa phải chuyển hướng nghề nghiệp. Các lĩnh vực việc làm truyền thống cũng thu hẹp đáng kể. Tỷ lệ tuyển dụng trong thương mại và kinh doanh quốc tế giảm từ 28% năm 2010 xuống còn 18% vào năm 2023. Các vị trí dịch thuật giảm một nửa, từ 15% xuống 8%. Lĩnh vực giáo dục và gia sư cũng giảm từ 25% xuống còn 22%, trong đó, đào tạo tiếng Anh bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Dẫu vậy, tờ Xinjingbao đã cảnh báo không nên vội vàng “khai tử” các chương trình đào tạo này. Theo tờ báo, “dù AI có thể dịch nhanh và chính xác đến đâu, vẫn không thể thay thế con người trong khả năng ứng biến hay cảm nhận cảm xúc”. Việc tạm dừng tuyển sinh nên được xem là cơ hội để tái cấu trúc mô hình đào tạo phù hợp hơn. Zeng, một tân cử nhân Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh, chia sẻ: “Cái chúng tôi học là về vẻ đẹp của ngôn ngữ. Nếu không có nền tảng đó, ngay cả khi dùng ChatGPT, người ta cũng không biết liệu bản dịch có thực sự hay hay không”. Cô nhấn mạnh học ngoại ngữ còn là học về tư duy phản biện và các giá trị nhân văn. Đồng quan điểm, bà Dai Jiangwen (Trưởng khoa tiếng Anh tại Đại học Giao thông Bắc Kinh) cho rằng, trong kỷ nguyên AI, ngành này vẫn sở hữu những giá trị nhân văn “không thể thay thế” như trí tuệ cảm xúc, sự nhạy cảm văn hóa và tư duy phản biện - những yếu tố mà máy móc khó có thể tái tạo. Bà khuyến nghị sinh viên nên theo học các chương trình kết hợp “ngôn ngữ + AI”, coi đây là con đường trực tiếp để khối ngành nhân văn bước vào lĩnh vực công nghệ. (Theo Asia News Network, Seoul Economic Daily) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1 (0,5 điểm): Xác định cách trình bày thông tin trong văn bản. Câu 2 (0,5 điểm): Theo văn bản, điều gì khiến các khoa ngoại ngữ trên khắp Trung Quốc đối mặt với làn sóng cắt giảm mạnh? Câu 3 (1,0 điểm): Phân tích vai trò của 02 dữ liệu thứ cấp trong đoạn văn in nghiêng trong văn bản.
- Câu 4 (1,0 điểm): Anh chị hiểu như thế nào về lời chia sẻ của Zeng trong văn bản: “Cái chúng tôi học là về vẻ đẹp của ngôn ngữ”? Câu 5 (1,0 điểm): Từ lời khuyên nghị của bà Dai Jiangwen dành cho sinh viên: “nên theo học các chương trình kết hợp ‘ngôn ngữ + AI’”, anh/chị rút ra bài học gì cho bản thân về việc học ngoại ngữ trong bối cảnh ngày nay? II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm): Văn bản phần Đọc hiểu có đưa ra nhận định: “dù AI có thể dịch nhanh và chính xác đến đâu, vẫn không thể thay thế con người trong khả năng ứng biến hay cảm nhận cảm xúc”. Anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết của khả năng thích ứng trong bối cảnh đầy biến động ngày nay của người trẻ. Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích đoạn trích sau: Anh về lại ngôi nhà mình Sau mười năm Sau mười năm chiến tranh. Vẫn chỗ mưa mẹ đứng Mẹ đón anh buổi bình minh nhập nhoạng, Mẹ trao cho anh chiếc đèn và bảo Cơn mưa đón anh buổi hừng đông chạng vạng, Đừng để ngọn lửa rung! (...) Mẹ xếp những thúng, chậu, nồi, xoong... Nhà dột. Khúc nhạc mưa nhà dột tấu lên Chỗ nằm chỉ còn đủ độ dài giữa hai chiếc cột Ru êm cánh võng. Chiều rộng bằng khuôn chiếc tăng. Người lính nằm im, Mắc võng. Nghe âm thanh chiến tranh trong người mình cất Lại mắc võng. giọng Vẫn là cây theo anh từ rừng về đây làm cột. Trong đêm hòa bình đầu tiên. Võng đưa sẽ ướt, Không có trái bom nào rơi đúng nhà mẹ, Nhưng đã có con mọt trong cột làm âm thanh Không có viên đạn nào bắn thủng mái nhà mẹ đung đưa Chỉ có đứa con trai đi xa Ngày xưa, Chỉ có sự chờ đợi nặng nề giọt xuống Chỗ ướt mẹ nằm Đã xuyên thủng mái nhà thành những lỗ to lỗ nhỏ khác nhau. (Trích Ngày hòa bình đầu tiên, Phùng Khắc Bắc¹, dẫn theo ———Hết——— Thí sinh không sử dụng tài liệu. Giám thị coi thi không giải thích gì thêm. ¹ Phùng Khắc Bắc (1944 – 1990), tên thật là Phùng Khắc Toàn, là một nhà thơ, nhà văn quân đội. Thơ ông thường mang âm hưởng của sự suy tư, triết lý về thân phận con người, tình yêu và nỗi đau hậu chiến. Bài thơ Ngày hòa bình đầu tiên được viết vào năm 1985, một thập kỷ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), khi ông chiêm nghiệm lại cuộc chiến và ngày trở về sau những năm tháng chiến đấu.
- HƯỚNG DẪN GIẢI I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Câu 1. Văn bản trình bày thông tin theo trình tự logic: nêu thực trạng các khoa ngoại ngữ ở Trung Quốc bị cắt giảm, đưa ra nguyên nhân và số liệu chứng minh, sau đó nêu ý kiến đánh giá, khuyến nghị về hướng điều chỉnh đào tạo. Có thể diễn đạt: Văn bản sử dụng cách trình bày thông tin theo quan hệ nguyên nhân - kết quả, kết hợp số liệu thống kê, dẫn chứng và ý kiến của người trong cuộc/chuyên gia. Câu 2. Theo văn bản, các khoa ngoại ngữ trên khắp Trung Quốc đối mặt với làn sóng cắt giảm mạnh vì: - Trí tuệ nhân tạo AI đang phát triển nhanh, làm thay đổi sâu sắc lĩnh vực dịch thuật. - Nguồn cung nhân lực ngoại ngữ đã rơi vào trạng thái bão hòa. - Cơ hội việc làm của sinh viên ngành ngoại ngữ giảm, nhiều người không làm đúng chuyên ngành. - Nhiều lĩnh vực việc làm truyền thống như dịch thuật, thương mại quốc tế, giáo dục ngoại ngữ bị thu hẹp. => Nguyên nhân chính là sự phát triển của AI cùng với tình trạng dư thừa nhân lực ngoại ngữ. Câu 3. Hai dữ liệu thứ cấp trong đoạn văn in nghiêng có vai trò quan trọng. Dữ liệu thứ nhất: Theo danh mục của Bộ Giáo dục Trung Quốc, có 28 ngành liên quan đến ngoại ngữ bị xóa bỏ tại 109 trường đại học. Dữ liệu này cho thấy việc cắt giảm ngành ngoại ngữ không phải hiện tượng cá biệt, nhỏ lẻ mà diễn ra trên phạm vi rộng, ở nhiều trường đại học. Qua đó, người đọc thấy được quy mô và mức độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng trong đào tạo ngoại ngữ. Dữ liệu thứ hai: Theo báo cáo của MyCOS, tỷ lệ có việc làm của sinh viên ngành ngoại ngữ năm 2023 chỉ còn 76,8%; chỉ 52% sinh viên làm đúng chuyên ngành; các vị trí dịch thuật giảm từ 15% xuống 8%... Dữ liệu này chứng minh rõ nguyên nhân khiến các ngành ngoại ngữ bị cắt giảm: cơ hội việc làm suy giảm, nhu cầu tuyển dụng thu hẹp, nhiều sinh viên phải chuyển hướng nghề nghiệp. Những con số cụ thể làm cho thông tin trong văn bản trở nên khách quan, thuyết phục và đáng tin cậy hơn. Câu 4. Lời chia sẻ của Zeng: “Cái chúng tôi học là về vẻ đẹp của ngôn ngữ” có thể hiểu là học ngoại ngữ không chỉ học từ vựng, ngữ pháp hay cách dịch một văn bản từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. “Vẻ đẹp của ngôn ngữ” là sự tinh tế trong cách dùng từ, sắc thái biểu cảm, giá trị văn hóa, tư duy và cảm xúc ẩn sau mỗi ngôn ngữ. Một bản dịch đúng chưa chắc đã hay, bởi cái hay của ngôn ngữ còn nằm ở giọng điệu, ngữ cảnh, cảm xúc và chiều sâu văn hóa. Qua lời chia sẻ ấy, Zeng muốn khẳng định rằng AI có thể hỗ trợ dịch nhanh, thậm chí khá chính xác, nhưng con người vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc cảm nhận, đánh giá và sáng tạo ngôn ngữ. Học ngoại ngữ còn giúp con người phát triển tư duy phản biện, sự nhạy cảm văn hóa và những giá trị nhân văn mà máy móc khó thay thế.
- Câu 5. Từ lời khuyến nghị của bà Dai Jiangwen rằng sinh viên nên học các chương trình kết hợp “ngôn ngữ + AI”, em rút ra bài học: trong bối cảnh hiện nay, việc học ngoại ngữ cần thay đổi theo hướng chủ động, linh hoạt và biết kết hợp với công nghệ. Người học không nên xem AI là mối đe dọa, cũng không nên lệ thuộc hoàn toàn vào AI. AI có thể giúp tra cứu, dịch thuật, luyện phát âm, sửa lỗi viết, mở rộng vốn từ, nhưng người học vẫn cần có nền tảng ngoại ngữ vững chắc để biết đánh giá, kiểm chứng và sử dụng kết quả của AI một cách hiệu quả. Bản thân mỗi người cần rèn luyện khả năng tự học, tư duy phản biện, sự nhạy cảm văn hóa, khả năng giao tiếp và thích ứng. Học ngoại ngữ trong thời đại mới không chỉ là học để dịch, mà còn là học để kết nối, hội nhập, làm chủ công nghệ và tạo ra giá trị riêng của con người. II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ Trong bối cảnh xã hội ngày nay luôn biến động nhanh chóng, khả năng thích ứng là một phẩm chất rất cần thiết đối với người trẻ. Thích ứng là khả năng điều chỉnh suy nghĩ, hành động, phương pháp học tập và làm việc để phù hợp với những thay đổi của hoàn cảnh. Cuộc sống hiện đại đang thay đổi từng ngày bởi sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, sự biến động của thị trường lao động và những yêu cầu mới của xã hội. Nếu không có khả năng thích ứng, người trẻ dễ bị tụt hậu, lúng túng, thậm chí mất phương hướng trước những thay đổi bất ngờ. Ngược lại, người biết thích ứng sẽ biết học hỏi cái mới, chuyển đổi phương pháp làm việc, tận dụng công nghệ và tìm ra cơ hội trong khó khăn. Tuy nhiên, thích ứng không có nghĩa là chạy theo mọi thay đổi một cách thụ động hay đánh mất giá trị của bản thân. Người trẻ cần giữ vững mục tiêu, đồng thời không ngừng học tập, rèn luyện kỹ năng, trau dồi bản lĩnh và tư duy linh hoạt. Có như vậy, mỗi người mới có thể tự tin đứng vững và phát triển trong thời đại nhiều biến động. Câu 2. Phân tích đoạn trích thơ Đoạn trích trong bài thơ “Ngày hòa bình đầu tiên” của Phùng Khắc Bắc đã khắc họa xúc động cảnh người lính trở về nhà sau mười năm chiến tranh. Qua hình ảnh ngôi nhà dột, người mẹ chờ con và những âm thanh trong đêm hòa bình đầu tiên, đoạn thơ gợi lên nỗi đau hậu chiến âm thầm, dai dẳng, đồng thời thể hiện tình mẫu tử sâu nặng và những suy tư nhân văn về chiến tranh. Mở đầu đoạn trích là hoàn cảnh trở về của người lính: Anh về lại ngôi nhà mình Sau mười năm chiến tranh. Hai câu thơ ngắn gọn, giản dị nhưng gợi nhiều xúc động. “Mười năm chiến tranh” là quãng thời gian dài đằng đẵng, chất chứa biết bao mất mát, hiểm nguy và xa cách. Người lính trở về trong buổi “bình minh nhập nhoạng”, “hừng đông chạng vạng”. Thời điểm ấy vừa là lúc ngày mới bắt đầu, vừa còn vương bóng tối. Nó gợi cảm giác mơ hồ, chông chênh: hòa bình đã đến nhưng dư âm chiến tranh vẫn chưa tan hết trong đời sống con người. Hình ảnh ngôi nhà mẹ hiện lên thật nghèo khó, xót xa: Nhà dột. Chỗ nằm chỉ còn đủ độ dài giữa hai chiếc cột Chiều rộng bằng khuôn chiếc tăng.
- Những câu thơ ngắn, tách dòng liên tiếp như những lát cắt hiện thực. Căn nhà không còn là nơi trú ngụ bình yên trọn vẹn mà trở nên chật chội, tạm bợ, thiếu thốn. “Chiếc tăng” vốn là vật dụng gắn với đời lính, nay được đem ra so sánh với chiều rộng chỗ nằm, khiến không gian gia đình cũng nhuốm màu chiến tranh. Đáng chú ý, người lính “mắc võng”, rồi “lại mắc võng”; chiếc võng và cây cột như kéo cả rừng, cả chiến trường trở về căn nhà nhỏ. Chiến tranh không dừng lại ở chiến tuyến mà còn để lại dấu vết trong từng vật dụng, từng âm thanh, từng giấc ngủ của con người. Cảm động nhất là hình ảnh người mẹ. Ngày xưa, “chỗ ướt mẹ nằm”; mười năm sau, “vẫn chỗ mưa mẹ đứng”. Một chữ “vẫn” gợi bao nỗi xót xa. Suốt thời gian con đi chiến đấu, mẹ ở nhà chịu đựng thiếu thốn, chờ đợi và hy sinh lặng thầm. Mẹ trao cho con chiếc đèn và dặn: “Đừng để ngọn lửa rung!”. Lời dặn ấy không chỉ là lời nhắc giữ ngọn lửa trong căn nhà dột, mà còn mang ý nghĩa biểu tượng. Đó là ngọn lửa của sự sống, của niềm tin, của tình mẹ, của hòa bình mong manh vừa được đánh đổi bằng biết bao đau thương. Đoạn thơ còn khắc họa sâu sắc nỗi ám ảnh chiến tranh trong tâm hồn người lính: Người lính nằm im, Nghe âm thanh chiến tranh trong người mình cất giọng Trong đêm hòa bình đầu tiên. Đêm ấy là “đêm hòa bình đầu tiên”, nhưng người lính chưa thể hoàn toàn bình yên. Bên ngoài là tiếng mưa nhà dột, bên trong là “âm thanh chiến tranh” vẫn vang lên. Câu thơ cho thấy chiến tranh không chỉ gây ra thương tích trên thân thể hay tàn phá nhà cửa, mà còn để lại vết thương tinh thần dai dẳng trong con người. Đặc biệt, những câu cuối đoạn trích tạo nên một phát hiện đau xót: Không có trái bom nào rơi đúng nhà mẹ, Không có viên đạn nào bắn thủng mái nhà mẹ Chỉ có đứa con trai đi xa Chỉ có sự chờ đợi nặng nề giọt xuống Đã xuyên thủng mái nhà thành những lỗ to lỗ nhỏ khác nhau. Nhà mẹ không bị bom đạn trực tiếp tàn phá, nhưng mái nhà vẫn thủng bởi “sự chờ đợi nặng nề”. Cách nói giàu tính biểu tượng đã biến nỗi nhớ, nỗi lo, nỗi chờ con thành một sức nặng hữu hình. Chiến tranh vì thế hiện ra không chỉ ở tiếng bom, viên đạn, mà còn ở sự mòn mỏi của những người mẹ hậu phương. Đây là điểm sâu sắc và nhân văn của đoạn thơ. Về nghệ thuật, đoạn trích sử dụng thể thơ tự do, câu thơ ngắn dài linh hoạt, ngôn ngữ giản dị mà giàu sức gợi. Các hình ảnh “nhà dột”, “chiếc võng”, “ngọn lửa”, “mái nhà thủng” vừa chân thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Giọng thơ trầm lắng, suy tư, kết hợp giữa tự sự và trữ tình, giúp đoạn thơ chạm đến những nỗi đau thầm kín sau chiến tranh. Tóm lại, đoạn trích “Ngày hòa bình đầu tiên” không chỉ kể về cuộc trở về của một người lính, mà còn gợi lên những mất mát âm thầm của con người sau chiến tranh. Qua hình ảnh người mẹ, ngôi nhà dột và người lính trong đêm hòa bình đầu tiên, Phùng Khắc Bắc đã gửi gắm niềm thương cảm sâu sắc đối với số phận con người và lời nhắc nhở tha thiết về giá trị của hòa bình.
- ĐỀ SỐ 4 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2025 SƠN LA MÔN: NGỮ VĂN LẦN 1 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) PHẦN I: ĐỌC HIỂU Đọc văn bản sau: NHỮNG BỨC TƯỜNG Có những bức tường ta xây và ta phá, có những bức tường ta không xây và không nhìn thấy. Anh và em đi trên mặt đất này giữa những bức tường ta xây và phá nhưng tất cả đều bị bao quanh bởi những bức tường không nhìn thấy Giữa những cái bắt tay có một bức tường, giữa em và người em thấy trong gương có một bức tường, giữa hai chiếc gối nằm kề nhau có một bức tường. Khi ta ngước mắt nhìn trời xanh trên mặt đất đã có những bức tường, khi ta cúi xuống nhìn mặt đất xung quanh ta đã có những bức tường khi ta nghĩ đến những miền xa phía trước ta đã có những bức tường. Những bức tường, những bức tường, những bức tường có mặt khắp nơi, trong những lời vui đoàn tụ trong những lời buồn chia tay, những bức tường ta không xây những bức tường không thể phá Đêm đêm anh vẫn nghe lũ quạ cười nói huyên thuyên trên những bức tường này. (Trương Đăng Dung, Những bức tường, dẫn theo * Tác giả Trương Đăng Dung sinh năm 1954 tại Nghệ An. Ông là một nhà nghiên cứu văn học, một dịch giả uy tín, một nhà thơ tài hoa. Tập thơ tiêu biểu của ông: Những kỉ niệm tưởng tượng (Nxb Thế giới, 2011). Thơ ông giàu chất triết lý, mang nhiều nỗi khắc khoải về phận người, sự trôi chảy của thời gian, nỗi cô đơn và niềm ám ảnh về cái chết.



