Tuyển tập 15 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn các Trường THPT tại Hà Nội 2025-2026 (Kèm đáp án)
Bạn đang xem 25 trang mẫu của tài liệu "Tuyển tập 15 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn các Trường THPT tại Hà Nội 2025-2026 (Kèm đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
tuyen_tap_15_de_thi_thu_tot_nghiep_thpt_mon_ngu_van_cac_truo.docx
Nội dung text: Tuyển tập 15 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn các Trường THPT tại Hà Nội 2025-2026 (Kèm đáp án)
- - HS triển khai luận điểm nhưng những lí lẽ, bằng chứng chưa thuyết phục cao, bàn luận chưa sâu: 0,5-1,0 điểm - HS không triển khai được các luận điểm, không đưa ra được lí lẽ, dẫn chứng: 0 điểm Lưu ý: - HS có thể trình bày quan điểm cá nhân nhưng phải có lập luận thuyết phục. - Đảm bảo quy tắc chính tả, từ ngữ, liên kết văn bản. Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích tâm trạng 4,0 của nhân vật trữ tình trong bài thơ “Mùa xuân lên núi” (Lưu Quang Vũ). Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau: a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về dung lượng và bố cục bài văn nghị luận. - Vấn đề nghị luận: tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ “Mùa xuân lên núi” (Lưu Quang Vũ). 0,5 - Dung lượng: khoảng 600 chữ. Hướng dẫn chấm: - HS bảo đảm vấn đề nghị luận và dung lượng, bố cục của bài văn: 0,5 điểm - HS chỉ đảm bảo được 01 trong các yêu cầu: 0,25 điểm - HS không đảm bảo được một yêu cầu nào: 0 điểm b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kỹ năng nghị luận. b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận văn học - Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận. 2 - Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận. Hướng dẫn chấm: 0,5 - HS viết được mở bài và kết bài: 0,5 điểm - HS chỉ viết được mở bài hoặc kết bài: 0,25 điểm - HS không viết mở bài và kết bài: 0 điểm b2. Phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ: * Tâm trạng của nhân vật trữ tình: - Háo hức, vui mừng khi gặp mùa xuân trên núi; - Gắn bó, yêu mến con người và cuộc sống miền núi; - Lạc quan và tràn đầy hi vọng; 2,0 - Tha thiết, hồi hộp trước mùa xuân và tương lai. * Nghệ thuật: thể thơ bảy chữ, hình ảnh gần gũi, sống động, giàu sức gợi, giọng điệu trữ tình, thiết tha; sử dụng đa dạng các biện pháp tu từ: nhân hóa, điệp, so sánh, b3. Đánh giá chung 0,5 - Bài thơ bộc lộ tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước và tinh thần lạc quan của con
- người trong hoàn cảnh kháng chiến. - Nghệ thuật của bài thơ góp phần thể hiện hiệu quả tâm trạng nhân vật trữ tình. Hướng dẫn chấm: - HS triển khai hệ thống luận điểm chặt chẽ, kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ, dẫn chứng cụ thể theo trình tự hợp lí: 2,25-2,5 điểm - HS triển khai được những luận điểm phù hợp nhưng chưa đưa ra được những lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục hoặc sắp xếp trình tự chưa hợp lí: 1,5-2,0 điểm - HS đưa lí lẽ, dẫn chứng thiếu tính thuyết phục: 0,5 điểm - 1,25 điểm - HS không đưa ra được những lí lẽ, dẫn chứng phù hợp với vấn đề nghị luận: 0 điểm. c. Sáng tạo - Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Hướng dẫn chấm. - Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo Hướng dẫn chấm: - HS thể hiện tư duy sáng tạo qua lập luận, diễn đạt, phù hợp với vấn đề nghị 0,5 luận: 0,5 điểm - HS thể hiện tư duy sáng tạo qua một trong hai phương diện: lập luận hoặc diễn đạt: 0,25 điểm - HS chưa thể hiện rõ sự sáng tạo: 0 điểm Tổng điểm 10,0 ..............................HẾT..............................
- LỜI GIẢI THAM KHẢO I. ĐỌC HIỂU Câu 1 Phần Sapo cho biết những thông tin chính về đề án xây dựng Bảo tàng “Kí ức chiến tranh và khát vọng hòa bình” của UBND tỉnh Quảng Trị. Cụ thể, phần Sapo cho biết: bảo tàng có quy mô khoảng 11 ha; được triển khai trong giai đoạn 2026- 2030; mức đầu tư lên đến 1.000 tỷ đồng. Như vậy, phần Sapo đã tóm tắt những thông tin quan trọng nhất về quy mô, thời gian thực hiện và kinh phí đầu tư của công trình. Câu 2 Trong đoạn văn: “Theo đó, số liệu từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết ”, tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp. Vì đây là số liệu được lấy từ một nguồn có sẵn, cụ thể là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, chứ không phải do tác giả trực tiếp khảo sát, điều tra hoặc thu thập lần đầu. Những thông tin về hơn 5.000 tài liệu, hiện vật liên quan đến giai đoạn 1954-1975 đã được cơ quan chức năng thống kê, cung cấp lại cho người viết. Câu 3 Một phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là hình ảnh minh họa. Hình ảnh trong văn bản giúp người đọc hình dung cụ thể hơn về không gian, quy mô và ý nghĩa lịch sử của khu vực gắn với công trình bảo tàng. Nhờ có hình ảnh, nội dung văn bản trở nên sinh động, trực quan và hấp dẫn hơn, không chỉ cung cấp thông tin bằng chữ mà còn tác động đến thị giác, cảm xúc của người đọc. Bên cạnh đó, hình ảnh còn góp phần nhấn mạnh tầm vóc của công trình Bảo tàng “Kí ức chiến tranh và khát vọng hòa bình”. Qua hình ảnh lá cờ, khu di tích và không gian rộng lớn, người đọc cảm nhận rõ hơn ý nghĩa thiêng liêng của nơi lưu giữ kí ức chiến tranh, khơi dậy lòng tự hào dân tộc và ý thức trân trọng hòa bình. Câu 4 Trong văn bản, người viết thể hiện thái độ trân trọng, tự hào và đề cao công trình Bảo tàng “Kí ức chiến tranh và khát vọng hòa bình”. Người viết không chỉ cung cấp thông tin về quy mô, kinh phí, thời gian xây dựng bảo tàng mà còn nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử, văn hóa và nhân văn của công trình. Những cách diễn đạt như “phản ánh chân thực và toàn diện ký ức chiến tranh”, “chuyển hóa di sản ký ức thành thông điệp hòa bình”, “truyền tải thông điệp nhân văn” cho thấy người viết đánh giá cao vai trò của bảo tàng trong việc lưu giữ quá khứ, tri ân các thế hệ đi trước và giáo dục thế hệ hôm nay. Theo em, đó là thái độ, quan điểm khách quan, tích cực và đáng trân trọng. Bởi một công trình lưu giữ kí ức chiến tranh không chỉ có giá trị lịch sử mà còn góp phần nhắc nhở con người biết yêu chuộng hòa bình, sống có trách nhiệm với đất nước. Câu 5 Theo em, những công trình kiến trúc có ý nghĩa văn hóa, lịch sử là rất cần thiết đối với mỗi quốc gia, dân tộc.
- Trước hết, đó là nơi lưu giữ những dấu ấn quan trọng của lịch sử, giúp các thế hệ sau hiểu được quá khứ của dân tộc mình. Những công trình như bảo tàng, di tích, đài tưởng niệm không chỉ là kiến trúc vật chất mà còn là không gian chứa đựng kí ức, niềm tự hào, sự biết ơn đối với những người đã hi sinh vì đất nước. Bên cạnh đó, các công trình văn hóa, lịch sử còn có ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Khi được tham quan, tìm hiểu, thế hệ trẻ sẽ nhận thức rõ hơn giá trị của độc lập, tự do, hòa bình hôm nay. Từ đó, mỗi người biết sống có trách nhiệm hơn, biết gìn giữ truyền thống và đóng góp cho quê hương, đất nước. Ngoài ra, những công trình ấy còn góp phần phát triển du lịch, quảng bá hình ảnh đất nước, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, việc xây dựng, bảo tồn và phát huy giá trị của các công trình kiến trúc văn hóa, lịch sử là việc làm cần thiết và có ý nghĩa lâu dài. II. VIẾT Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ Tuổi trẻ hôm nay cần biết trân trọng “kí ức chiến tranh” của dân tộc. “Kí ức chiến tranh” là những hồi ức, câu chuyện, hình ảnh, sự kiện gắn với những năm tháng đất nước phải trải qua đau thương, mất mát nhưng cũng rất đỗi hào hùng. Việc trân trọng kí ức chiến tranh trước hết thể hiện đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn đối với các thế hệ cha anh đã hi sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc. Nhờ biết nhớ về quá khứ, người trẻ càng thấm thía giá trị của hòa bình, độc lập, tự do hôm nay. Những bảo tàng, di tích lịch sử, câu chuyện về chiến tranh không nhằm khơi lại hận thù mà giúp thế hệ trẻ hiểu rằng hòa bình là thành quả phải đánh đổi bằng biết bao mất mát. Từ đó, tuổi trẻ cần sống có trách nhiệm hơn: chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức, gìn giữ truyền thống dân tộc, tích cực xây dựng đất nước. Trân trọng kí ức chiến tranh cũng là cách để mỗi người trẻ biết yêu hơn cuộc sống hiện tại và có ý thức bảo vệ tương lai hòa bình của dân tộc. Câu 2. Bài văn nghị luận khoảng 600 chữ Lưu Quang Vũ là một gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Thơ ông thường giàu cảm xúc, giản dị mà sâu lắng, thể hiện tình yêu tha thiết với con người, quê hương, đất nước. Bài thơ “Mùa xuân lên núi” được sáng tác năm 1969, trong hoàn cảnh đất nước còn chiến tranh. Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được tâm trạng háo hức, yêu đời, gắn bó với thiên nhiên, con người và niềm tin vào tương lai của nhân vật trữ tình. Trước hết, nhân vật trữ tình hiện lên với tâm trạng háo hức, vui mừng khi gặp mùa xuân nơi miền núi. Ngay từ những câu thơ đầu, không gian thiên nhiên đã mở ra trong vẻ đẹp vừa lạnh, vừa trong trẻo, vừa thơ mộng: Sáng lạnh đợi phà qua sông Lô Chiều gặp mùa xuân ở Thác Bà Hành trình “qua sông Lô”, “ở Thác Bà” gợi cảm giác nhân vật trữ tình đang đi vào một vùng đất mới, nơi mùa xuân đang hiện diện đầy bất ngờ và quyến rũ. Cảnh vật hiện lên qua “hơi khói”, “mờ sương”, “thung lũng xa” tạo nên vẻ đẹp bảng lảng, mơ hồ, rất đặc trưng của miền núi. Trước khung cảnh ấy, nhân vật trữ tình như say mê, rung động trước vẻ đẹp của mùa xuân đất trời. Không chỉ yêu thiên nhiên, nhân vật trữ tình còn thể hiện sự gắn bó, yêu mến với con người và cuộc sống miền núi. Hình ảnh “chợ tết người xuôi tàu Vũ Én”, “nhà ai đang vớt bánh”, “bữa cơm vui” gợi không
- khí sinh hoạt đầm ấm, gần gũi của con người trong ngày xuân. Tuy nhiên, niềm vui ấy vẫn thấp thoáng nỗi nhớ và sự thiếu vắng: Dưới núi nhà ai đang vớt bánh Mà bữa cơm vui vẫn thiếu người Câu thơ gợi ra hoàn cảnh chiến tranh: trong niềm vui ngày Tết vẫn có những người đang ở tiền tuyến, những gia đình vẫn ngóng chờ người thân. Nhân vật trữ tình vì thế không chỉ nhìn mùa xuân bằng niềm vui riêng mà còn cảm nhận mùa xuân trong sự gắn bó với đời sống chung của đất nước. Bên cạnh đó, nhân vật trữ tình mang tâm trạng lạc quan, tràn đầy hi vọng. Thiên nhiên trong bài thơ vận động theo chiều hướng sinh sôi, tươi mới: Rừng mới cây ươm đã thẳng đều Cọ xoè thêm lá xanh tươi thế Lách tách chồi non đội vỏ lên Những hình ảnh “cây ươm”, “lá xanh”, “chồi non” đều gợi sự sống mới, sức phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt, động từ “đội” trong câu “Lách tách chồi non đội vỏ lên” khiến mầm sống như có sức bật, có ý chí vươn lên. Trong hoàn cảnh chiến tranh, những hình ảnh ấy càng làm nổi bật niềm tin vào sự hồi sinh, vào tương lai tươi sáng của đất nước. Tâm trạng của nhân vật trữ tình còn là sự tha thiết, hồi hộp trước mùa xuân và trước tương lai. Càng lên cao giữa núi rừng, lòng người càng mở rộng: Anh nhìn vô tận rừng xa thẳm Nghĩ về đất nước nghĩ về em. Hai tiếng “nghĩ về” được lặp lại cho thấy tình yêu riêng và tình yêu đất nước hòa quyện trong tâm hồn nhân vật trữ tình. “Em” ở đây không chỉ là hình bóng của tình yêu đôi lứa mà còn gắn với quê hương, với cuộc sống bình yên mà nhân vật luôn hướng tới. Đến khổ thơ cuối, tâm trạng ấy trở nên rạo rực, bâng khuâng: Lòng anh hồi hộp như con suối Thao thức mùa xuân giữa đất trời. Hình ảnh so sánh “lòng anh hồi hộp như con suối” diễn tả rất tinh tế trạng thái xao động, náo nức, dạt dào sức sống của nhân vật trữ tình. Đó là sự thao thức của một tâm hồn trẻ tuổi trước mùa xuân thiên nhiên, mùa xuân tình yêu và mùa xuân đất nước. Thành công của bài thơ còn đến từ nghệ thuật đặc sắc. Thể thơ bảy chữ tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, giàu chất nhạc. Hình ảnh thơ gần gũi, sống động, giàu sức gợi như “hoa mận rơi”, “cỏ mềm”, “gót chân nai”, “con suối” đã làm nổi bật vẻ đẹp trong trẻo của núi rừng mùa xuân. Các biện pháp tu từ như nhân hóa, so sánh, điệp từ được sử dụng tự nhiên, góp phần thể hiện sâu sắc tâm trạng nhân vật trữ tình. Tóm lại, bài thơ “Mùa xuân lên núi” đã thể hiện tâm trạng háo hức, vui tươi, yêu đời, yêu thiên nhiên, yêu con người và tin tưởng vào tương lai của nhân vật trữ tình. Qua đó, Lưu Quang Vũ gửi gắm tình yêu đất nước, tình yêu cuộc sống và tinh thần lạc quan của con người Việt Nam trong hoàn cảnh kháng chiến.
- ĐỀ SỐ 3 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Trường: ........................................... MÔN: NGỮ VĂN Lớp: ................................................ Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản: Bà San nuôi con riêng của chồng và con chung của hai người, bà tự hứa với ông chồng là liệt sĩ đã hi sinh sẽ chăm sóc yêu thương con của chồng như con đẻ. Khi chiến tranh Tây Nam nổ ra, giấy gọi nhập ngũ gọi người con trai lớn (là con riêng của chồng), vì lo sợ người con trai cả hi sinh, bà đã lên ủy ban để yêu cầu đổi giấy nhập ngũ ghi tên con riêng của mình. Sau đó, người con thứ 2 tên Cảnh là con đẻ của bà vào chiến trường, con cả ở nhà làm công nhân thủy điện. Trong một lần thực hiện nhiệm vụ lặn xuống đáy hồ, người con trai cả đã chết vì tai nạn lao động. Từ đó, bà luôn dằn vặt mình. Hằng năm, bà thường cùng người con đẻ lên lòng hồ sông Đà tưởng nhớ người chồng đã hi sinh và con trai lớn đã chết tại đây... Lão ngư dừng chèo khi thuyền đến giữa hồ, mặt nước tĩnh lại, tuyệt nhiên chẳng một gợn sóng, từng làn hơi trắng từ mặt hồ bay lên bảng lảng, con thuyền mỏng manh tan dần vào sương khói. Bà San ngồi đầu mạn, sau khi miệng khấn những điều chỉ mình bà biết, tay bà không ngừng rắc những hạt gạo và muối xuống nước, chúng như biến mất khi vừa chạm mặt hồ. Hàng nghìn con cá bống trắng muốt múa những vũ điệu uyển chuyển đón lấy những hạt trần gian, chúng xuất hiện rồi biến mất theo nhịp vung tay của người đàn bà. Lúc sau, bà San lấy bộ quần áo quan ra đốt. “Đây là dành cho ông, hãy tha lỗi cho tôi.” - Bà nói như khóc. Ngọn lửa bừng lên phơi sáng khuôn mặt buồn rầu, tiều tuỵ. Mặt hồ lã chã giọt lửa, chạm vào nước tạo những tiếng xèo xèo trước khi trở thành những đụn tro bồng bềnh. Người đàn bà chợt cất lên những lời ca, nghe nỉ non, da diết... “Đây là dành cho con, hãy tha thứ cho mẹ”. Những nắm gạo và muối lại được rắc ra từ đôi tay bà. Hàng nghìn con cá lại nhảy múa, trông như dải lụa trắng uốn lượn bay trong nước. Cảnh lấy ra bộ quần áo thứ hai đưa mẹ và châm lửa, từ tay bà, lửa nhanh chóng bùng lên liếm gọn chiếc áo quan. Hồ lặng gió, nước như tờ, chiếc thuyền bung bênh nhè nhẹ như nôi. Mặt trời hửng lên phía núi, đáy hồ trăng trôi. (Trích “Đáy hồ trăng hát” – Bùi Tuấn Minh, in trong Tuyển tập truyện ngắn đặc sắc, NXB Văn học, 2025). Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1 (0,5 điểm). Chỉ ra dấu hiệu để xác định ngôi kể của văn bản. Câu 2 (0,5 điểm). Trong đoạn trích trên, bà San đã có những hành động cụ thể nào để tưởng nhớ người đã khuất? Câu 3 (1,0 điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau: “Hàng nghìn con cá lại nhảy múa, trông như dải lụa trắng uốn lượn bay trong nước”. Câu 4 (1,0 điểm). Nhân vật bà San trong đoạn trích trên có tâm trạng như thế nào khi đến nơi người chồng và con đã hi sinh? Việc miêu tả những nét tâm trạng đó có tác dụng gì trong việc thể hiện chủ đề của văn bản?
- Câu 5 (1,0 điểm). Hãy chỉ ra một vài thông điệp rút ra từ văn bản trên. II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật bà San trong đoạn truyện “Đáy hồ trăng hát” (Bùi Tuấn Minh) được trích dẫn ở phần đọc hiểu. Câu 2 (4,0 điểm) Lấy câu chuyện được đề cập trong phần đọc hiểu làm gợi ý, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về trách nhiệm của người trẻ tuổi đối với thế hệ cha anh của đất nước.
- ĐÁP ÁN I. ĐỌC HIỂU Câu 1: Phương pháp: Căn cứ kiến thức về ngôi kê, phân tích và xác định dấu hiệu của ngôi kể Cách giải: - Văn bản được kể theo ngôi thứ ba. - Dấu hiệu: Người kể không xưng “tôi”. Nhân vật được gọi bằng tên riêng hoặc đại từ như: bà San, Cảnh, lão ngư, người đàn bà Người kể đứng ngoài câu chuyện để thuật lại diễn biến. Câu 2: Phương pháp: - Đọc kĩ văn bản, phân tích và lựa chọn chi tiết phù hợp Cách giải: - Bà San đã thực hiện các hành động: + Khấn vái. + Rắc gạo và muối xuống mặt hồ. + Đốt quần áo quan để gửi cho người đã mất. + Cất lời ca nỉ non, da diết. => Những hành động mang ý nghĩa tưởng nhớ, cầu xin sự tha thứ và bày tỏ lòng thương nhớ. Câu 3: Phương pháp: - Xác định các từ ngữ so sánh. - Phân tích tác dụng biểu đạt nội dung và cảm xúc. - Biện pháp tu từ: So sánh: “Hàng nghìn con cá lại nhảy múa, trông như dải lụa trắng uốn lượn bay trong nước”. - Tác dụng: + Làm nổi bật vẻ mềm mại, uyển chuyển và đẹp mắt của đàn cá. + Tăng tính gợi hình, gợi cảm cho cảnh vật trên lòng hồ. + Góp phần tạo nên không gian linh thiêng, huyền ảo phù hợp với tâm trạng tưởng niệm của nhân vật. Câu 4: Phương pháp: Căn cứ nội dung văn bản, phân tích tâm trạng của bà San - Tâm trạng của bà San: + Buồn đau, day dứt và ân hận. + Mang nỗi dằn vặt vì quyết định trong quá khứ. + Tha thiết cầu xin sự tha thứ từ người chồng và người con đã mất. - Tác dụng của việc miêu tả tâm trạng: + Khắc họa sâu sắc bi kịch nội tâm của nhân vật. + Thể hiện tình mẫu tử và nghĩa vợ chồng sâu nặng. + Làm nổi bật chủ đề tác phẩm: sự ám ảnh của chiến tranh, nỗi đau mất mát và khát vọng được tha thứ
- của con người. Câu 5: Phương pháp: HS đọc kĩ văn bản, rút ra thông điệp phù hợp HS đọc văn bản và rút ra thông điệp phù hợp. Gợi ý: - Con người cần biết trân trọng tình thân và những người thân yêu khi còn có thể. - Những quyết định trong cuộc đời đôi khi để lại nỗi day dứt lâu dài. - Chiến tranh để lại những mất mát và vết thương tinh thần sâu sắc cho con người. - Lòng bao dung và sự tha thứ giúp con người tìm được sự bình yên trong tâm hồn. II. VIẾT Câu 1: Phương pháp: - Phân tích (Phân tích đề để xác định vấn đề nghị luận, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng). - Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận, ) để tạo lập một văn bản nghị luận. Cách giải: 1. Mở đoạn: - Giới thiệu tác phẩm Đáy hồ trăng hát của Bùi Tuấn Minh. - Nhân vật bà San hiện lên là người phụ nữ giàu tình nghĩa, mang nỗi day dứt sâu sắc vì những mất mát trong chiến tranh. 2. Thân đoạn a. Người phụ nữ giàu tình nghĩa, thủy chung - Bà San luôn tưởng nhớ người chồng liệt sĩ và con trai đã mất: khấn vái, rắc gạo, muối xuống hồ, đốt quần áo gửi cho người đã khuất => Bài là người phụ nữ giàu tình nghĩa, thủy chung. - Luôn mang trong mình nỗi day dứt và ân hận trong tâm hồn: “Đây là dành cho ông, hãy tha lỗi cho tôi”, “hãy tha thứ cho mẹ”; Hành động, giọng ca nỉ non cho thấy sự dằn vặt kéo dài trong lòng bà => Bà mang nỗi ám ảnh về quyết định năm xưa. - Tình mẫu tử sâu sắc + Bà luôn đau đớn khi nhớ đến người con đã mất. + Sự tưởng niệm là cách bà gửi gắm tình thương và mong được tha thứ. => Nhân vật bà San thể hiện nỗi đau hậu chiến và khát vọng được tha thứ của con người, qua đó gợi lên sự trân trọng tình thân và giá trị của hòa bình. - Nghệ thuật: Nghệ thuật khắc hoạ nhân vật đặc sắc qua lời nói, hành động,.. 3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận. Câu 2: Phương pháp: - Phân tích (Phân tích đề để xác định vấn đề nghị luận, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng). - Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận, ) để tạo lập một văn bản nghị luận. 1. Mở bài: Giới thiệu chung và nêu vấn đề nghị luận. 2. Thân bài:
- a. Giải thích vấn đề - Thế hệ cha anh: những người đi trước đã hi sinh, lao động và cống hiến để xây dựng và bảo vệ đất nước. - Trách nhiệm của người trẻ: ý thức, nghĩa vụ và hành động thiết thực nhằm trân trọng, tiếp nối và phát huy những giá trị mà thế hệ trước đã tạo dựng. b. Tại sao người trẻ phải có trách nhiệm với thế hệ cha anh - Lòng biết ơn là nền tảng đạo đức: Mọi sự thụ hưởng hiện tại (hòa bình, giáo dục, công nghệ) đều đứng trên đôi vai của những người khổng lồ quá khứ. - Sự tiếp nối là quy luật phát triển: Lịch sử là một dòng chảy liên tục. Nếu thế hệ trẻ dừng lại, dòng chảy đó sẽ bị đứt gãy. - Mỗi thời đại có một "cuộc chiến" riêng. Nếu cha anh đánh giặc cứu nước, thì người trẻ ngày nay phải "đánh" nghèo nàn, lạc hậu để khẳng định vị thế dân tộc trên bản đồ thế giới. c. Biểu hiện của trách nhiệm - Tìm hiểu lịch sử, trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống (không để bị hòa tan trong thời kỳ toàn cầu hóa). - Mỗi học sinh cần nỗ lực làm chủ tri thức để trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao. - Sống có lý tưởng, tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, thiện nguyện. d. Mở rộng - Phê phán lối sống "vô ơn" hoặc "thờ ơ": Những người coi hòa bình là hiển nhiên, sống ích kỷ, hưởng thụ hoặc có tư tưởng sùng ngoại, quay lưng với lịch sử dân tộc. - Bài học nhận thức và hành động: Mỗi người trẻ cần: trân trọng lịch sử; nỗ lực học tập; sống có trách nhiệm với đất nước và cộng đồng. 3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận



