Tuyển tập 4 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Lào Cai 2022-2026 (Kèm đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Tuyển tập 4 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Lào Cai 2022-2026 (Kèm đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
tuyen_tap_4_de_thi_thu_tot_nghiep_thpt_mon_ngu_van_so_gddt_l.docx
Nội dung text: Tuyển tập 4 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Lào Cai 2022-2026 (Kèm đáp án)
- HƯỚNG DẪN CHẤM Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC HIỂU 4,0 Đề tài: Hậu chiến Hướng dẫn chấm: 1 0,5 - Học sinh trả lời như đáp án: 0,5 điểm. - Học sinh trả lời khác đáp án: 0,0 điểm. Trong tim Tường luôn đau đáu, khắc khoải khi nghĩ về: Hình ảnh mẹ, cha và vợ. Hướng dẫn chấm: 2 - Học sinh trả lời như đáp án: 0,5 điểm. 0,5 - Học sinh trả lời đúng 01 nhân vật: 0,25 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc có câu trả lời khác yêu cầu: 0,0 điểm. - Biện pháp tu từ liệt kê: ánh mắt, lời nói, tiếng kêu, gương mặt, tiếng nói. - Tác dụng: + Tăng sức gợi hình, biểu cảm trong diễn đạt, tạo ấn tượng mạnh với người đọc. + Làm nổi bật sự đau đớn, mất mát và cảm giác xa lạ mà nhân vật Tường đang trải qua; thể hiện sự đồng cảm, thấu hiểu nỗi đau của con người thời hậu chiến. 3 1,0 Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời như đáp án: 1,0 điểm. - Học sinh trả lời được ý 1: 0,25 điểm. - Học sinh trả lời được ý 2: 0,75 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc có câu trả lời khác yêu cầu: 0,0 điểm. Tình cảm của tác giả dành cho nhân vật Tường: - Đồng cảm, xót xa với nỗi đau của Tường khi anh mất đi tình yêu, sự gắn kết với gia đình; Trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp của sự hy sinh thầm lặng, dù chịu nhiều mất mát nhưng vẫn tràn đầy tình yêu thương, khát khao được trở về đoàn tụ. - Đó là những tình cảm chân thành, sâu sắc mang tính nhân văn với người lính thời hậu chiến. 4 Hướng dẫn chấm: 1,0 - Học sinh trả lời như đáp án: 1,0 điểm. - Học sinh trả lời được ý 1 được 0,75 điểm. - Học sinh trả lời được ý 2 được 0,25 điểm.. - Học sinh không trả lời hoặc có câu trả lời khác yêu cầu: 0,0 điểm. * Lưu ý: Học sinh có thể diễn đạt nhiều cách hợp lí, hiểu vấn đề là chấp nhận được. Học sinh rút ra được thông điệp có ý nghĩa và lí giải hợp lí theo ý kiến riêng, không vi phạm chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Sau đây là một số gợi ý: 5 - Số phận người lính: chịu nhiều đau thương, mất mát về cả thể xác và tinh thần. 1,0 - Tiếng nói lên án chiến tranh: Chiến tranh không chỉ gây ra những nỗi đau thể
- xác mà còn để lại những vết thương tinh thần cho những người trở về. - Cần thấu hiểu, trân trọng và yêu thương người lính sau chiến tranh. - Biết ơn những người đã hi sinh vì tổ quốc. Hướng dẫn chấm: - Học sinh rút ra được thông điệp và lí giải hợp lí : 1,0 điểm. - Học sinh có lí giải phù hợp : 0,75 điểm - Học sinh rút ra được thông điệp: 0,25 điểm - Học sinh không trả lời hoặc có câu trả lời khác yêu cầu: 0,0 điểm. * Lưu ý: Học sinh có thể diễn đạt nhiều cách hợp lí, hiểu vấn đề là chấp nhận được. II Viết 6,0 Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ ) phân tích nghệ thuật kể chuyện trong đoạn trích “Đêm làng Trọng Nhân” của tác giả Sương Nguyệt Minh a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn. Đảm bảo yêu cầu về hình thức và dung lượng của đoạn văn (khoảng 200 chữ). 0,25 Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: nghệ thuật kể chuyện trong đoạn trích 0,25 “Đêm làng Trọng Nhân” của tác giả Sương Nguyệt Minh c.Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu: Lựa chọn các thao tác nghị luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở đảm bảo những nội dung sau: - Ngôi kể thứ ba nhưng có sự hòa trộn giữa điểm nhìn của người kể chuyện và nhân vật, giúp tái hiện chân thực thế giới nội tâm của nhân vật, đặc biệt là tâm 1 trạng giằng xé, đau đớn của người lính trở về sau chiến tranh. - Cách kể linh hoạt, đan xen giữa hiện tại và quá khứ, giúp khắc họa sâu sắc những biến đổi trong nhận thức và cảm xúc của nhân vật chính - Ngôn ngữ và giọng điệu kể chuyện tự nhiên, phù hợp với trạng thái cảm xúc 1,0 nhân vật, góp phần khắc họa sinh động tâm lý nhân vật và bối cảnh làng quê sau chiến tranh. - Đánh giá: Nghệ thuật trần thuật góp phần làm nổi bật tư tưởng, chủ đề văn bản; thể hiện tài năng của tác giả; ấn tượng với người đọc. Hướng dẫn chấm: - Phân tích đầy đủ, sâu sắc: 0,75 - 1,0 điểm. - Phân tích chưa đầy đủ hoặc chưa sâu: 0,5 điểm. - Phân tích chung chung, sơ sài: 0,25 điểm. - Viết lạc đề: 0,0 điểm d. Diễn đạt. 0,25
- Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp Tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. e. Sáng tạo. 0,25 Suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Hiện nay, nhiều người cho rằng nắm bắt cơ hội là yếu tố quyết định để thành công nhưng không ít người lo ngại rằng việc quá vội vàng có thể dẫn đến thất bại. 4,0 Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề trên. a. Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng bài văn. 0,25 Đảm bảo yêu cầu về hình thức và dung lượng (600 chữ) của bài văn b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Nắm bắt cơ hội - quyết định thành công hay 0,5 thất bại. c. Viết bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu: - Lựa chọn được các thao tác nghị luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và bằng chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng sau: 1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề. 2. Thân bài: - Giải thích: Cơ hội là thời điểm quan trọng, có thể giúp con người đạt được thành công nhanh chóng. 2 2,5 - Bàn luận: + Những người biết nắm bắt cơ hội sẽ tiến bộ vượt trội trong sự nghiệp, cuộc sống. Những người biết trân trọng cơ hội sẽ thành công và tạo ra giá trị riêng cho bản thân. Mặt khác, cơ hội không đến nhiều lần, nếu bỏ lỡ sẽ mất đi cơ hội phát triển. + Nắm bắt cơ hội quá nhanh mà không suy nghĩ kỹ có thể dẫn đến quyết định sai lầm. + Để thành công cần phải biết trân trọng từ những cơ hội nhỏ. Tích cực trang bị kiến thức, kĩ năng cho bản thân. Dũng cảm hành động, không sợ thất bại. Rèn luyện cho bản thân sự nhạy bén, tinh tế để nhận ra cơ hội... (Thí sinh lấy được dẫn chứng thuyết phục) - Mở rộng vấn đề: trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác: Nắm bắt cơ hội là điều quan trọng nhưng cần tỉnh táo, thận trọng và cân nhắc kĩ trước khi quyết định - Bài học nhận thức và hành động: + Nhận thức: tầm quan trọng của cơ hội và việc nắm bắt cơ hội. + Hành động: Trang bị kiến thức, kĩ năng. 3. Kết bài:
- - Khái quát vấn đề nghị luận Lưu ý: Thí sinh có thể trình bày suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật Hướng dẫn chấm: - Phân tích đầy đủ, sâu sắc: 2,0 - 2,5 điểm. - Phân tích chưa đầy đủ hoặc chưa sâu sắc: 1,25 điểm - 1,75 điểm. - Phân tích chung chung, sơ sài: 0,5 điểm - 1,0 điểm. - Viết lạc đề: 0,0 điểm d. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp Tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn 0,25 văn. e. Sáng tạo 0,5 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Tổng điểm 10,0
- ĐỀ SỐ 3 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2023 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MÔN: NGỮ VĂN HÀ NỘI Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) PHẦN I. ĐỌC HIỂU: Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi. Đá san hô kê lên thành sân khấu Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa Gió rát mặt, đảo luôn thay hình dạng Đá củ đậu bay như lũ chim hoang Cứ mặc nó! Nào hỡi các chiến hữu Ta bắt đầu thôi. Mây nước đã mở màn Sân khấu lô nhô mấy chàng đầu trọc Người xem ngổn ngang cũng rặt lính trọc đầu Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau [ .] Những giai diệu ngang tàng như gió biển Những lời ca toàn nhớ với thương Đêm buông xuống nhìn nhau không rõ nữa Cứ ngỡ như vỏ ốc cất thành lời. (Trích Lính đảo hát tình ca trên đảo, Trần Đăng Khoa, Bên cửa sổ máy bay, Nxb Tác phẩm mới, 1985) * Cánh gà: Khu vực nằm khuất chéo phía hai bên sân khấu thường có màn vải che kín, dùng làm lối ra vào sân khấu. Câu 1. (NB) Xác định thể thơ của đoạn trích. Câu 2. (TH) Hãy tìm hai hình ảnh đặc biệt của sân khấu do những người lính đảo tự tạo ra qua đoạn thơ: Đá san hô kê lên thành sân khấu Vài tấm tôn chôn mấy cánh gà Em đừng trách bọn chúng anh tạm bợ Chẳng phông màn nào chịu nổi gió Trường Sa. Câu 3. (TH) Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Những giai điệu ngang tàng như gió biển.
- Câu 4. (VD) Anh/chị hãy nhận xét về vẻ đẹp tâm hồn những người lính đảo được thể hiện trong đoạn trích (Trả lời trong khoảng 5-7 dòng). PHẦN II. LÀM VĂN: Câu 1. (VDC) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sức mạnh tinh thần lạc quan của con người trong hoàn cảnh khó khăn. Câu 2. (VDC) Ngày Tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị. Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả. Mị không biết, Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mị mới đứng dậy, nhưng Mị không bước ra đường chơi, mà từ từ bước vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường. Anh ném pao, em không bắt Em không yêu, quả pao rơi rồi... (Ngữ văn 12, Tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010, tr.8) Anh/Chị hãy phân tích đoạn trích trên; từ đó, nhận xét cái nhìn về người lao động của nhà văn Tô Hoài.
- ĐÁP ÁN PHẦN I. ĐỌC HIỂU: Câu 1. Phương pháp: Vận dụng các kiến thức đã học về các thể thơ đã học. Cách giải: Thể thơ tự do. Câu 2. Phương pháp: Đọc, tìm ý. Cách giải: Hai hình ảnh đặc biệt của sân khấu do những người lính đảo tự tạo ra qua đoạn thơ: - Sân khấu được làm từ đá san hô. - Cánh gà được tạo nên từ mấy tấm tôn. Câu 3. Phương pháp: Vận dụng kiến thức đã học về biện pháp tu từ. Cách giải: - Biện pháp tu từ: So sánh. - Tác dụng: Thể hiện vẻ đẹp của những giai điệu người lính mạnh mẽ, ngang tàng, đầy kiên định. Câu 4. Phương pháp: Phân tích, lý giải, tổng hợp. Cách giải: Học sinh tự đưa ra nhận xét về tâm hồn của người lính. Đảm bảo yêu cầu đề bài. Gợi ý: - Sự tinh nghịch, dí dóm của người lính. - Sự mạnh mẽ, ngang tàng nhưng vẫn mang nét lãng mạn. - Người anh hùng lạc quan, PHẦN II. LÀM VĂN: Câu 1. Phương pháp: Vận dụng kiến thức đã học về cách làm một đoạn nghị luận xã hội. Cách giải: * Xác định vấn đề nghị luận: Sức mạnh tinh thần lạc quan của con người trong hoàn cảnh khó khăn. 1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề. 2. Thân đoạn: Triển khai vấn đề. - Con người trong cuộc đời luôn phải đối diện với những thử thách, khó khăn. Đó là điều không thể tránh khỏi. Một trong những yếu tố cần thiết nhất khi gặp khó khăn đó là sự lạc quan. - Sức mạnh của tinh thần lạc quan trong khó khăn: + Tinh thần lạc quan khiến chúng ta giữ được sự bình tĩnh. Từ đó tìm ra hướng giải quyết vấn đề khắc phục khó khăn. + Tinh thần lạc quan tạo ra năng lượng tích cực giữ con người không gục ngã khi gặp khó khăn. + Tinh thần lạc quan đôi khi giúp con người tìm ra hướng đi mới, bài học mới ngay trong khó khăn. + Tinh thần lạc quan chính là yếu tố giúp cuộc sống của con người trở nên có ý nghĩa hơn. ..
- 3. Kết đoạn: Bài học nhận thức và hành động. Học sinh chú ý đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho mỗi luận điểm của mình. Câu 2. Phương pháp: - Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng). - Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận, ) để tạo lập một văn bản nghị luận văn học. Cách giải: Yêu cầu hình thức: - Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận văn học để tạo lập văn bản. - Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. Yêu cầu nội dung: I. Giới thiệu chung - Tô Hoài là một cây bút văn xuôi tiêu biểu của nền văn học hiện đại Việt Nam. Tô Hoài rất am hiểu phong tục tập quán của người dân miền núi, biệt tài phân tích tâm lí nhân vật và lời văn đậm chất khẩu ngữ. - Vợ chồng A Phủ là sản phẩm của chuyến đi thực tế của ông cùng bộ đội lên giải phóng Tây Bắc. - Khái quát vấn đề: Phân tích đoạn trích trên; từ đó, nhận xét cái nhìn về người lao động của nhà văn Tô Hoài. II. Phân tích 1. Phân tích đoạn trích * Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở phần giữa của tác phẩm. Đoạn trích thể hiện sự trỗi của tinh thần Mị trong đêm tình mùa xuân. a. Nguyên nhân thức tỉnh: - Không khí ngày xuân: + Người Hồng Ngài ăn Tết khi đã gặt xong bất kể ngày tháng năm -> Khi cuộc sống vật chất đã đầy đủ thì cuộc sống tinh thần mới trở nên tốt đẹp. Qua đây cho thấy nhà văn Tô Hoài rất am hiểu về phong tục miền núi Tây Bắc. + Ngày Tết ở Hồng Ngài rất vui. Trai gái trẻ con tập trung ra mảnh sân ở trước đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn. Ngày xuân là ngày người ta đi tìm nhau, người ta trưng diện để gặp nhau. Ngày Tết năm ấy rất lạnh, những không thể ngăn được già, trẻ, gái, trai đến với những trò chơi dân gian, không ngăn được trai gái tìm thấy nhau. + Ai ai cũng đi chơi tết nhưng có một người đang lạc lõng giữa đám đông đó là Mị. Ngày Tết thằng A Sử không cho Mị đi chơi Tết. -> Không khí ngày xuân như một cơn giớ mát lành đã làm xao động cõi lòng của Mị, như một mặt hồ yên ả bỗng lăn tăn gợn sóng sau bao tháng ngày bình lặng . - Men rượu ngày xuân:
- + Rượu khiến người ta vui trong không khí tưng bừng ngày Tết. Mị không được đi chơi thì cũng sẽ có cách đón Tết riêng – lén lấy rượu uống ực từng bát. Mị uống như đang dốc hết những đắng cay của cuộc đời. Cách uống rượu của Mị như bõ hờn, như bõ tức, như đang căm giận như đang uất ức một điều gì đó. + Sau khi uống rượu Mị quan sát mọi người nhảy đồng nhưng dường như cô không để tâm vào điều đó, cô không quan sát điều đó bởi lòng Mị đang sống về những ngày trước -> Rượu làm lu mờ đi cuộc sống hiện tại đau khổ, rượu là chất xúc tác khiến Mị say, khiến Mị quên, khiến Mị xóa mờ đi được thực tại đau khổ mà trở về với những kí ức ngày xưa. Rượu là một cây cầu nối dẫn Mị về với kí ức tươi đẹp. + Trong văn học rất nhiều nhân vật đã sử dụng men rượu. Hồ Xuân Hương đã sử dụng men rượu để quên đi thực tại hay Chí Phèo uống đã cạn hai chai rượu để cố gắng quên đi Thị Nở, nhưng vẫn còn hơi cháo hành thoang thoảng. Cuối cùng, là một cô Mị uống để quên đi thực tại không khí của ngày xuân nhưng lại chìm vào không khí của những ngày xuân trước đó. -> Tìm đến rượu để quên đi bi kịch của mình. Rượu có thể làm thể trạng say nhưng lại khiến họ thức tỉnh nỗi đau của thân phận. => Men rượu là chất xúc tác dẫn Mị về quá khứ tươi đẹp của một thời tự do, hạnh phúc. - Tiếng sáo ngày xuân: + Tiếng sáo xuất hiện rất nhiều, xuất hiện dày đặc. + Tiếng sáo ngày xuân là tín hiệu tình yêu của những đôi trai gái đi tìm nhau. Ngày xưa có bao nhiêu chàng trai thổi sáo đi theo Mị. Đó là thời Mị yêu và được yêu. Một thời gian hạnh phúc, tự do. Bây giờ khi tiếng sáo gọi bạn cất lên, điều đó không chỉ đại diện cho kí ức mà là sự thúc gọi, là động lực thôi thúc Mị đến với đêm tình mùa xuân đến với sự thức tỉnh trở lại thành đúng cô Mị ngày nào. b. Ý thức thức thức tỉnh: - Sự thay đổi trong ý thức, lòng Mị đột nhiên vui sướng trở lại. Chứng tỏ thời gian trước lòng Mị giống như một mảnh đất khô cằn, để đến bây giờ, khi được thức tỉnh, lòng cô phơi phới như có làn gió làm cho nở hoa, làm cho đâm chồi. Điều nay đánh dấu sự thức tỉnh đầu tiên trong tâm hồn Mị. - Mị nhận ra Mị còn trẻ. Mị biết tự soi lại mình. Còn trẻ là tóc còn xanh, da còn căng và trái tim còn phập phồng khát vọng yêu đương. - Mị muốn đi chơi. Nếu như ngày trước Mị về làm dâu A Sử không cho Mị đi chơi, mà dù cho A Sử cho phép Mị cũng chẳng buồn đi. Cô khước từ nhu cầu tinh thần bởi khi đó, Mị trở thành cỗ máy lao động chỉ có nhu cầu tồn tại. Bây giờ Mị nảy sinh khát vọng tinh thần tháo cũi sổ lồng. - Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Lần đầu tiên sau bao nhiêu ngày về làm dâu, cô biết so sánh mình với những thân phận làm dâu khác. Mị cũng lấy chồng như người ta và Mị cũng phải đi chơi ngày Tết. Đây là một đòi hỏi công bằng. Đây là sự thức tỉnh về mặt lý chí để đòi lại quyền lợi cho mình. - Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Những ngày đầu làm dâu Mị đã từng muốn ăn lá ngón tự tử nhưng sau đó cha của Mị ngăn lại. Vì chữ hiếu, cô ném nắm lá ngón đi và từ đó không bao giờ có ý định ăn lá ngón tự tử nữa. Ngày cha Mị chết, mối ràng buộc duy nhất của Mị không còn nhưng cô cũng không còn muốn ăn lá ngón tự tử nữa. Lúc này cô đã bị tê liệt cả về thể xác lần tinh thần. Vậy mà bây giờ nó lại trở lại trong tâm chí của Mị đánh dấu sự thức tỉnh về tâm hồn, Mị đã ý thức được cái khổ của mình, ý thức phản kháng trong Mị tưởng đã bị vùi lấp tự nhiên được quay lại. Cô Mị ngày nào, bông hoa ban ngát hương ngày nào đã trở lại vẹn nguyên trong đêm tình mùa xuân đó.
- => Sự thức tỉnh của Mị trong đêm tình mùa xuân giống như hình ảnh của một hòn than. Nó đại diện cho sức sống tiềm tàng của Mị. Hôm nay có thể bị vùi, bị chôn trong tro lạnh phũ phàm. Nhìn bề ngoài có thể thấy vô cùng lạnh lẽo tưởng như đã tắt hẳn nhưng bên trong đó, hòn than vẫn âm ỉ và nó vẫn chờ đến đêm mùa đông để vùng lên đất cháy mọi xiềng xích để giải thoát được mình. 2. Nhận xét cái nhìn về người lao động của nhà văn Tô Hoài. - Tô Hoài nhìn người lao động bằng tình yêu thương, sự đồng cảm, trân trọng họ. - Dưới cái nhìn của Tô Hoài, người nông dân hiện lên với sự khổ cực vì phải chịu sự áp bức, bóc lột của chế độ cầm quyền. Thế nhưng, khác với người nông dân trước Cách mạng, họ luôn biết vươn lên thoát khổ bằng nghị lực, bằng sự phản kháng mãnh liệt. - Quan đây, tác giả thể hiện niềm tin vào sức sống bất diệt ở những người lao động bị vùi dập tàn nhẫn bởi cưởng quyền và thần quyền. - Với cảm hứng nhân đạo mới mẻ, có thể xem đoạn trích này nói riêng và Vợ chồng A Phủ nói chung là bài ca, ca ngợi sự sống con người. III. Kết luận - Khái quát lại vấn đề. - Giá trị nội dung, nghệ thuật.



