Tuyển tập 5 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Cà Mau 2021-2026 (Kèm đáp án)
Bạn đang xem 25 trang mẫu của tài liệu "Tuyển tập 5 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Cà Mau 2021-2026 (Kèm đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
tuyen_tap_5_de_thi_thu_tot_nghiep_thpt_mon_ngu_van_so_gddt_c.docx
Nội dung text: Tuyển tập 5 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Cà Mau 2021-2026 (Kèm đáp án)
- - Trả lời được 2 ý nêu trên hoặc tương đương, diễn đạt chưa rõ ý: 0,75 điểm - Trả lời được 1 ý nêu trên hoặc tương đương: 0,5 điểm - Có trả lời nhưng chưa thật rõ ý: 0,25 điểm - Không trả lời hoặc trả lời sai: 0,0 điểm. 5 Rút ra một thông điệp có ý nghĩa nhất đối với anh/chị qua bài thơ (khoảng 5 đến 1,0 7 dòng). Đây là dạng câu hỏi mở, thí sinh có thể rút ra thông điệp theo suy nghĩ của cá nhân dựa trên nội dung, ý nghĩa của bài thơ; không vi phạm chuẩn mực đạo đức dân tộc và pháp luật. Sau đây là một số gợi ý: - Lòng yêu nước và niềm tự hào về đất nước. - Giá trị của hòa bình. - Ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với đất nước. - Tình yêu đôi lứa thủy chung, cao đẹp. - Niềm tin vào tương lai. ... Hướng dẫn chấm: - Rút ra thông điệp: 0,25 điểm. - Lí giải vì sao chọn thông điệp đó, diễn đạt rõ ràng, thuyết phục: 0,75 điểm; diễn đạt, lí giải còn chung chung: 0,5 điểm. - Không rút ra thông điệp cụ thể, chỉ lí giải suông: 0,25 điểm. - Trả lời sai/ghi lại ngũ liệu/ không trả lời: 0,0 điểm. II VIẾT 6,0 1 Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của 2,0 hình ảnh "những con đường về Nam" trong đoạn thơ. a. Xác định được yêu cầu về hình thức và dung lượng của đoạn văn - Bảo đảm yêu câ̂u về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ, cộng trừ 100 chữ) của đoạn văn. 0,25 -Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Ý nghĩa của hình ảnh "những con đường 0,25 về Nam" trong đoạn thơ. c. Viết đoạn văn đảm bảo yêu cầu phân tích ý nghĩa của hình ảnh "những con đường về Nam": Thí sinh có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, sao cho hợp lí và thuyết phục; sau đây là một số gợi ý: c1. Hình ảnh "những con đường về Nam" là những con đường địa lí nối liền từ 1,5 Bắc vào Nam, con đường hướng về miền Nam ruột thịt trong nỗi đau chia cắt. c2. Hình ảnh "những con đường về Nam" còn mang ý nghĩa biểu trưng cho con đường của ước mơ, khát vọng giải phóng miền Nam, cho lí tưởng hi sinh tất cả cho độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của thế hệ trẻ thời kì kháng chiến chống
- Mỹ. c3. Nghệ thuật: xây dựng hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng; ngôn ngữ gợi nhiều liên tưởng, cảm xúc; các biện pháp tu từ nhân hóa, ẩn dụ, so sánh... Hướng dẫn chấm: (phần c 1,5 điểm) - c.1. Cho 0,5 điểm nếu nêu và làm rõ được ý nêu trên hoặc tương tự. - c.2. Cho 0,5 điểm nếu nêu và làm rõ được ý nêu trên hoặc tương tự. - c.3. Cho 0,25 điểm nếu nêu và làm rõ được ý nêu trên hoặc tương tự. - Cho 0,25 điểm nếu diễn đạt hay và có ý sáng tạo. Trừ điểm mắc lỗi (diễn đạt lủng củng, sai chính tả, dùng từ, viết câu; lỗi ngữ pháp, chữ viết cẩu thả): trừ 0,5 điểm nếu đoạn văn mắc từ 5 đến 7 lỗi; mắc trên 7 lỗi không cho vượt quá nửa số điểm cả câu. 2 Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề: Chọn ngắm nhìn cuộc sống hay phải 4,0 hành động vì cuộc sống. a. Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận: 0,25 Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Sự băn khoăn của tuổi trẻ về vấn đề lựa chọn cách sống của bản thân: Chọn ngắm nhìn cuộc sống hay phải hành động vì cuộc 0,25 sống. c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu: Có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau miễn là hợp lí và thuyết phục; sau đây là gợi ý về cách triển khai một số nội dung cụ thể: 1. Mở bài. (0,25 điểm) Đặt vấn đề về hai thái độ sống: ngắm nhìn cuộc sống và hành động vì cuộc sống. 2. Thân bài. (3,0 điểm) 2.1. Giải thích: - Ngắm nhìn cuộc sống: Là thái độ sống chậm, quan sát cuộc sống. Uu tiên việc cảm nhận, tận hưởng cuộc sống. - Hành động vì cuộc sống: Là thái độ sống chủ động, tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội. Nỗ lực để đạt được mục tiêu, thay đổi hoàn cảnh, đóng góp cho 3,5 cộng đồng. → Đây là hai cách tiếp cận cuộc đời khác nhau, mỗi cách đều có giá trị và ý nghĩa riêng. 2.2. Bàn luận: - Bàn về ưu điểm và hạn chế của từng thái độ: + Ngắm nhìn cuộc sống: Giúp con người có tâm hồn rộng mở, giàu cảm xúc; có những khoảng lặng để suy tư, chiêm nghiệm và tận hưởng những giá trị tốt đẹp mà cuộc đời mang lại. Nhưng dễ trở nên thụ động, xa rời thực tế; có thể bỏ lỡ cơ hội để thay đổi cuộc sống, không đóng góp được nhiều cho xã hội. (Dẫn chứng phù hợp)
- + Hành động vì cuộc sống: Mang lại giá trị tốt đẹp cho mỗi người, cho cộng đồng, đất nước; khiến người trẻ trở nên tự tin, năng động, tích cực, sáng tạo không ngừng. Nhưng dễ bị cuốn vào vòng xoáy của công việc, bỏ quên những giá trị tinh thần; có thể gặp phải thất bại, căng thẳng, mệt mỏi, đôi khi hành động mù quáng, gây ra hậu quả tiêu cực. (Dẫn chứng phù hợp) - Bàn luận về sự cần thiết của cả hai thái độ: + Cuộc sống cần sự cân bằng giữa ngắm nhìn và hành động. + Tuyệt đối hóa một thái độ nào cũng dễ gặp phải sai lầm, hậu quả tiêu cực. 2.3. Mở rộng vấn đề: - Tùy từng giai đoạn của cuộc đời, tính cách, sở thích, hoàn cảnh có thể ưu tiên thái độ này hơn thái độ kia. Quan trọng là phải sống một cuộc đời ý nghĩa, hạnh phúc. - Rút ra bài học nhận thức và hành động. 3. Kết bài. (0,25 điểm) Khẳng định lại vấn đề. Hướng dẫn chấm: (phần thân bài 3,0 điểm) - Cho 0,75 điểm: nêu và làm rõ được 2 ý của yêu cầu 2.1 hoặc tương tự. Cho 0,5 nếu làm rõ được một ý của yêu cầu 2.1 hoặc tương tự. - Cho 0,75 điểm: nêu và làm rõ được 2 nội dung của yêu cầu 2.2 hoặc tương tự; cho 0,5 điểm nếu chỉ viết được 1 nội dung hoặc tương tự. - Cho 0,5 điểm: nêu và làm rõ được 1 ý trở lên của yêu cầu 2.3 hoặc tương tu:; - Cho 1,0 điểm diễn đạt hay và có ý sáng tạo. - Trừ điểm các lỗi (diễn đạt lủng củng, sai chính tả, dùng từ và chấm câu sai, chữ viết cẩu thả): trừ 0,5 điểm nếu bài văn mắc từ 3-5 lỗi; trừ 1,0 điểm mắc từ 6-9 lỗi; mắc trên 10 lỗi không cho quá số điểm cả câu. Tổng điểm 10,0 ĐỀ SỐ 3 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2024 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MÔN: NGỮ VĂN CÀ MAU Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn trích: Nói đến cuộc sống, đương nhiên chúng ta không thể quên những khoảnh khắc của sự lựa chọn, của những ngã rẽ - lúc mà mỗi cá nhân phải mạnh mẽ lấy những quyết định quan trọng, ảnh hưởng đến việc tiến thân. Không một ai thoát khỏi những phân vân, những lần lựa, những ưu tư và đôi khi cả những nuối tiếc. Khoảnh khắc khó chịu nhất có lẽ là khi mình đã lỡ chọn một hướng đi, nhưng ngộ được rằng con
- đường này nhiều chông gai, lắm rào cản và lại còn không phù hợp. Trong lòng, lúc ấy chỉ muốn được quay trở lại để bắt đầu, để lựa chọn lại một hướng khôn ngoan hơn. Việc lựa chọn tất nhiên đòi hỏi nhiều sáng suốt, nhưng trên hết người lựa chọn phải hiểu rõ thế giới mà mình đang sống và biết rõ chính mình muốn gì, và một mặt khác phải sẵn sàng cáng đáng lấy trách nhiệm trong sự lựa chọn. Nói một cách hoa mỹ hơn, mình chỉ tìm ra hướng đi đúng đắn và phù hợp cho bản thân nếu thấu hiểu rõ bản năng, bản ngã và cả tiềm thức của chính mình, cùng một tinh thần luôn sẵn sàng đối mặt với những hệ quả tốt và xấu từ sự lựa chọn ấy. Trong một đời người, có đến hàng chục thời điểm phải lựa chọn cho đúng. Ví dụ như chọn môn học, chọn nghề, chọn cho mình người bạn trăm năm hay là chọn nơi để lập nghiệp, rồi để ổn định đời sống gia đình. Có một sự lựa chọn chúng ta cần phải đối diện mỗi ngày, mỗi giờ, thậm chí mỗi giây, đó chính là chọn sự thay đổi. Từ những thay đổi rất nhỏ như một thói quen, một mái tóc hay thay đổi nơi làm việc đang gây ra sự nhàm chán, hoặc mạnh dạn hơn thế nữa là đổi hẳn nghề nghiệp... Không chỉ có vậy, từ những chuyện thường tình như lựa bạn mà chơi cũng là một sự lựa chọn phải biết đắn đo cân nhắc. Có đôi lúc trớ trêu hơn, cuộc đời đặt mình vào một tình huống éo le, mình muốn đổi hẳn đời nhưng phải đánh đổi quá nhiều thứ thân thuộc. Những lúc ấy, áp lực phải chọn lấy một quyết định khôn ngoan quả thật nhức nhối. (Trích Một đời như kẻ tìm đường, Phan Văn Trường, NXB Trẻ, tr.1-2) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. Câu 2. Theo tác giả, việc lựa chọn đòi hỏi chúng ta những gì? Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về quan điểm: “Có một sự lựa chọn chúng ta cần phải đối diện mỗi ngày, mỗi giờ, thậm chí mỗi giây, đó chính là chọn sự thay đổi”? Câu 4. Từ ý nghĩa của việc lựa chọn được nêu trong đoạn trích, anh/chị hãy rút ra bài học cho bản thân. II. LÀM VĂN (7.0 điểm) Câu 1. (2.0 điểm) Anh/Chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của việc lựa chọn đúng đắn. Câu 2. (5.0 điểm) Trong bài thơ Việt Bắc, nhà thơ Tố Hữu viết: Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy. Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi... Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng. Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
- Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô. Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo. Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa... (Trích Việt Bắc, Tố Hữu, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr. 110 - 111) Phân tích đoạn thơ trên; từ đó, nhận xét ngắn gọn về tính dân tộc trong thơ Tố Hữu được thể hiện qua đoạn thơ.
- HƯỚNG DẪN CHẤM Phần Câu Điể̀m Nội dung /Ý Đọc hiểu 3.0 I 1 PTBĐ chính: nghị luận 0.75 2 Theo tác giả, việc lựa chọn đòi hỏi chúng ta: - nhiều sáng suốt - hiểu rõ thế giới mà mình đang sống 0.75 - biết rõ chính mình muốn gì - sẵn sàng cáng đáng lấy trách nhiệm 3 * Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo được những ý cơ bản sau: - Con người cần phải chọn sự thay đổi, vì chính sự thay đổi mới làm cho bản thân 1.0 phát triển, góp phần phát triển cuộc sống. - Thay đổi là một đòi hỏi thường xuyên, tất yếu nhưng chọn sự thay đổi là một lựa chọn khó khăn, không phải ai cũng có đủ dũng khí để đối mặt. 4 - Nêu được bài học. 0.25 - Lí giải được vì sao chọn bài học đó. 0.25 Lưu ý: Giám khảo linh hoạt cho điểm, không áp đặt học sinh. Chỉ cho điểm tối đa khi học sinh trình bày thuyết phục, lập luận chặt chẽ, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật. II Làm văn 7.0 1 Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về giá trị của 2.0 việc lựa chọn đúng đắn. a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn: Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo một cách hoặc kết hợp các cách: 0.25 diễn dịch, quy nạp, móc xích, song hành, tổng-phân-hợp; đảm bảo yêu cầu về cấu trúc đoạn văn. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0.25 Giá trị của việc lựa chọn đúng đắn. c. Triển khai vấn đề nghị luận: 1.0 Thí sinh có thể lựa chọn thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ giá trị của việc lựa chọn đúng đắn; bảo đảm hợp lí, thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. Có thể triển khai theo hướng: - Lựa chọn đúng đắn là bản thân biết chọn lựa những việc làm, dự định, ước mơ phù hợp với năng lực, hoàn cảnh, xu thế. - Lựa chọn đúng đắn giúp mỗi người thực hiện được những gì bản thân đặt ra, tạo ra những giá trị cho chính mình và cộng đồng.
- - Cần có bản lĩnh để chọn lựa con đường, phương cách thực hiện cho chính mình, chấp nhận những ý kiến trái chiều để đi đến thành công. - Lựa chọn đúng đắn của bản thân chỉ là chủ quan, cần biết điều chỉnh nếu đó là lựa chọn dị biệt. d. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc, có ý tưởng riêng phù hợp với vấn đề nghị luận; 0.25 có cách lập luận, diễn đạt mới mẻ. đ. Chính tả, từ ngữ, ngữ pháp: 0.25 Bảo đảm chuẩn chính tả, từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt. 2 Phân tích đoạn thơ Việt Bắc; từ đó, nhận xét về tính dân tộc trong thơ 5.0 Tố Hữu được thể hiện qua đoạn trích. a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Mở bài giới thiệu khái quát vấn đề nghị luận; Thân bài thực hiện các yêu cầu của 0.25 đề bài; Kết bài khẳng định vấn đề nghị luận. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích đoạn thơ Việt Bắc; từ đó, nhận xét 0.5 về tính dân tộc trong thơ Tố Hữu được thể hiện qua đoạn trích. c. Triển khai vấn đề nghị luận: Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, cần vận dụng kết hợp các thao tác lập luận, phối hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; bảo đảm các yêu cầu sau: * Khái quát tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận. 0.5 * Phân tích đoạn thơ. - Nội dung: + Đoạn trích thể hiện nỗi nhớ của người ra đi: nhớ núi rừng, nhớ cảnh vật, nhớ 1.75 con người, một nỗi nhớ thường trực, khó diễn tả. + Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với những vẻ đẹp rất riêng theo từng khoảnh khắc không gian, thời gian. + Con người Việt Bắc tuy vất vả, gian nan nhưng vẫn lạc quan yêu đời, giàu tình, 0.5 nặng nghĩa. - Nghệ thuật: thể thơ lục bát, giọng thơ trữ tình, ngọt ngào, tha thiết, nhịp điệu nhẹ nhàng, chậm rãi diễn tả nỗi quyến luyến, nỗi nhớ đậm sâu, nghĩa tình khắng khít; 0,25 hình ảnh quen thuộc, ngôn ngữ giản dị, cách sử dụng cặp đại từ mình – ta, các biện pháp tu từ. - Đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật: đoạn thơ gợi ra bức tranh thiên nhiên, con người Việt Bắc vừa thơ mộng vừa hiện thực, diễn tả sâu sắc tình cảm ân tình 0,5 thủy chung son sắt giữa đồng bào và cán bộ cách mạng. * Nhận xét về tính dân tộc trong thơ Tố Hữu được thể hiện qua đoạn trích: Tính dân tộc trước hết được thể hiện qua đạo lí uống nước nhớ nguồn, ân nghĩa thuỷ chung; cách dùng thể thơ lục bát, ngôn ngữ mộc mạc, giàu hình ảnh, giàu sức gợi; đoạn thơ giàu nhạc tính... d. Chính tả, từ ngữ, ngữ pháp: 0.25
- Bảo đảm chuẩn chính tả, từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt. đ. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc, có ý tưởng riêng phù hợp với vấn đề nghị luận, 0.5 có cách lập luận, diễn đạt mới mẻ. TỔNG ĐỂM 10.0
- ĐỀ SỐ 4 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2023 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MÔN: NGỮ VĂN CÀ MAU Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm) Đọc đoạn trích: TÔI Là mùa đầu cánh đồng Mẹ tôi sinh nở Là cơn gió của đại ngàn Cha... Khi bị gọi nhầm tên, Tôi không nói gì. Khi ai đó nói rằng, tôi giống người họ đã gặp – Tôi bỏ đi. Khi cha tôi bảo, sự dữ dội của tôi khiến Người lo sợ Tôi âm thầm khóc. Cha mẹ định quàng dây cương vào tôi “Hãy để con tự đi!” Độc mã Quyết làm những gì mình muốn Tôi tự viết truyện đời bằng suy cảm Và biến những ý nghĩ thành sự thật Tôi đã nhìn mình trong gương cả khi khóc khi cười Bất cứ lúc nào trên sân khấu cuộc đời Tôi vẫn là diễn viên tồi Bởi tôi không bao giờ hoá trang để nhập vai người khác! (Trích Tôi - Vi Thuỳ Linh) Trả lời các câu hỏi sau: Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào? Câu 2. Tìm những câu thơ miêu tả sự quan trọng của con cái đối với cha mẹ được thể hiện trong đoạn trích. Câu 3. Chỉ ra sự thay đổi cảm xúc của nhân vật tôi và cho biết ý nghĩa của sự thay đổi đó qua những dòng thơ sau: Khi bị gọi nhầm tên, Tôi không nói gì. Khi ai đó nói rằng, tôi giống người họ đã gặp – Tôi bỏ đi.
- Khi cha tôi bảo, sự dữ dội của tôi khiến Người lo sợ Tôi âm thầm khóc. Câu 4. Nhận xét về thái độ của tác giả thể hiện qua những dòng thơ sau: “Hãy để con tự đi!” Độc mã Quyết làm những gì mình muốn II. LÀM VĂN (7.0 điểm) Câu 1. (2.0 điểm) Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sự cần thiết phải sống cuộc đời của chính mình. Câu 2. (5.0 điểm) Ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nư- ớc, của đá thác. Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của ng- ười cầm lái. Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất. Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật. Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. Vòng đầu vừa rồi, nó mở ra năm cửa trận, có bốn cửa tử một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông. Vòng thứ hai này tăng thêm nhiều cửa tử để đánh lừa con thuyền vào, và cửa sinh lại bố trí lệch qua phía bờ hữu ngạn. Cưỡi lên thác Sông Đà, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ. Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Bốn năm bọn thuỷ quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn này, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến. Những luồng tử đã bỏ hết lại sau thuyền. Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sóng thác luồng sinh. Chúng vẫn không ngớt khiêu khích, mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào cửa sinh nó trấn lấy. Còn một trùng vây thứ ba nữa. Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác. Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được. Thế là hết thác. Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh. Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang cá mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi cá túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi. Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với Sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp đáng nhớ... Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo. (Trích Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr. 189-190)



