12 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 11 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức)
Bạn đang xem 25 trang mẫu của tài liệu "12 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 11 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
12_de_thi_giua_hoc_ki_2_mon_ngu_van_11_co_ma_tran_dap_an_ket.docx
Nội dung text: 12 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 11 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức)
- 12 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 11 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) II. VIẾT (5,0 điểm) Dựa vào kiến thức đã học về tác giả Nguyễn Du, tác phẩm Truyện Kiều, anh/chị hãy thuyết minh về đoạn trích trên. ----- HẾT----- DeThi.edu.vn
- 12 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 11 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) HƯỚNG DẪN CHẤM Phần Câu Nội dung Điểm I. ĐỌC HIỂU 5.0 1 Tác giả Nguyễn Du. 0.5 Ngôn ngữ của người kể chuyện ; 2 0.5 Ngôn ngữ đôc thoại nội tâm của Kiều - Đối lập: Áo dầm giọt lệ >< tóc se mối sầu - Tác dụng: 3 + Về nội dung: nhấn mạnh, làm nổi bật tâm trạng đau khổ tột cùng của Kiều 1.0 + Về nghệ thuật: nhấn mạnh ý, tạo sự cân xứng, hài hòa, tạo nhịp điệu hài hòa từ đó làm tăng hiệu quả biểu đạt. - Thúy Kiều mang nặng mặc cảm là người có lỗi. Nàng luôn nghĩ cho người 4 khác. Nàng tự trách mình yêu thương, khăng khít, khiến Kim Trọng dở dang 1.0 trong tình duyên. a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu Gợi ý: - Xót xa, nuối tiếc khi tình yêu đầu đời của mình đang độ đẹp nhất đã tan vỡ. “ Phận dầu, dầu vậy cũng dầu / Xót lòng đeo đẳng bấy lâu một lời” - Tâm trạng đau khổ khi mang mặc cảm phụ tình chàng Kim, thương cho chàng Kim nàng tự nhận lỗi về mình “Vì ta khăng khít, cho người dở dang” 5 - Kiều chỉ biết mong đợi một kiếp sau sẽ “làm thân trâu ngựa đền nghì trúc 2.0 mai”. → Ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn giàu đức hi sinh của Kiều, từ đó thấy được sự đồng cảm, xót xa của nhà thơ dành cho nhân vật. d. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề, có cách diễn đạt mới mẻ. VIẾT 5.0 a. Đảm bảo cấu trúc bài thuyết minh Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được 0.25 II vấn đề b. Xác định đúng yêu cầu của đề. 0.5 Thuyết minh về giá trị tư tưởng và nghệ thuật của đoạn trích c. Triển khai vấn đề thuyết minh thành các luận điểm DeThi.edu.vn
- 12 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 11 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) Bài viết phải thể hiện được tính ngắn gọn, chính xác, khoa học và phù hợp với đối tượng thuyết minh; có các yếu tố bổ trợ để tăng tính hấp dẫn, đảm bảo các yêu 3.5 cầu sau: Mở bài: Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích. Thân bài: - Giới thiệu ngắn gọn về con người, sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du (thông tin cơ bản về tiểu sử và vị trí của ông trong nền văn học dân tộc) - Giới thiệu tác phẩm Truyện Kiều (Nguồn gốc, thể loại, giá trị của tác phẩm) - Vị trí đoạn trích, tóm tắt nội dung cốt truyện cho tới trước đoạn trích) - Trình bày giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của đoạn trích: + Giá trị tư tưởng: Giá trị nhân đạo thể hiện trong đoạn trích thông qua tâm trạng đau đớn, mặc cảm của Kiều vì phụ tình chàng Kim, Nguyễn Du đã thể hiện sự đồng cảm, xót xa cho số phận bị vùi dập của Kiều; lên án, tố cáo xã hội phong kiến bất công; ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn giàu đức hi sinh của Kiều, trích thơ minh hoạ) + Giá trị nghệ thuật: sự hài hòa giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân trong việc vận dụng kết hợp linh hoạt với các ca dao, thành ngữ, điển tích, điển cố; Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua diễn biến nội tâm; Bộc lộ nội tâm nhân vật bằng cách vận dụng ngôn ngữ đọc thoại + HS biết sử dụng linh hoạt các yếu tố miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,... trong bài văn thuyết minh Kết bài: Khẳng định đóng góp của đoạn trích/ tác phẩm cho nền văn học d. Chính tả, ngữ pháp 0.25 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. e. Sáng tạo: Thể hiện trọng tâm và thuyết phục về vấn đề thuyết minh; có cách 0.5 diễn đạt mới mẻ. Tổng điểm 10.0 DeThi.edu.vn
- 12 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 11 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) ĐỀ SỐ 3 MA TRẬN ĐỀ THI GIỮA HỌC KỲ II – LỚP 11 MÔN: NGỮ VĂN Mức độ nhận thức Tổng Vận Nhận Thông Vận % TT Kĩ năng Nội dung kiến thức / Đơn vị kĩ năng dụng biết hiểu dụng điểm cao Truyện thơ dân gian, truyện thơ Nôm Truyện ngắn/ tiểu thuyết hiện đại Bi kịch Đọc 2 2 2 50 Kí, tuỳ bút hoặc tản văn Thơ Văn bản thông tin Văn nghị luận Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội Viết văn bản nghị luận về một đoạn trích/tác phẩm văn học hoặc một bộ phim, bài hát, bức 2 Viết 1* 1* 1* 1* 50 tranh, pho tượng. Viết bài thuyết minh có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận Tổng % 20 40 30 10 100 Tỉ lệ % chung 60 40 DeThi.edu.vn
- 12 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 11 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ II Trường: ..................................................... MÔN: NGỮ VĂN LỚP 11 Họ và tên: ................................................. SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC Lớp: ......................................................... Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm Đọc văn bản: HÀ NỘI HOA (Nguyễn Văn Thọ ) (*) 1. Trên thế gian này, là con người, đâu chẳng yêu hoa! Nhưng Tết tới thì người Việt Nam mình cái sự yêu, chơi hoa nơi ngựa xe như nước áo quần như nêm, bao giờ chả rộn ràng hơn. Hà Nội của tôi những năm xa lắc ấy, nếp chơi hoa đào và quất, vẫn để hai loài cây thả sức mà tung tăng đi đến từng nhà. Nhưng cũng tuỳ cảnh, tuỳ người, chọn cho mỗi ai, mỗi gian phòng vui Tết, thưởng hoa, đào to đào nhỏ, đào cắm hay đào cây, Hà Nội Tết Hoa vốn dĩ tuỳ cảnh tuỳ người? Nhà tôi cả thẩy bốn lần chuyển nhà trên phố phường; bốn lần là bốn chỉ số phòng khách và phòng ăn hay phòng làm việc khác nhau, để rồi Tết ấy, xuân ấy, định kì đến hẹn, cha tôi tha thẩn ở chợ hoa mà im lặng chọn ra cho mình một dáng, vừa vặn nơi ông dùng hoa làm duyên cho xuân, vui Tết. Có năm hoa đào vươn ra, hai vòng ôm không xuể; đào cắm mà rực rỡ no mắt cả nhà. Lâu quá rồi! Còn lại, hơn ba chục năm trên gác xép của ông chỉ là một cành đào khiêm tốn tới có thể. Sự tàn lụi của thời gian, có thể hẹp đi về kích cỡ, nhưng không thu hẹp tấm lòng hoa với người và, người với hoa. Chắc thế nên hôm nào, tôi cứ khoe mãi câu thơ mồ côi của Nguyễn Duy trước một cành đào thắm nhỏ cao vừa đúng bốn năm gang góc xép của ông: Hạnh phúc lớn vòng tay ôm không xuể. Tết mà! Lại năm ấy là đào mua ở hoa rong. Năm nay rét thế, mấy kẻ chợ bán hoa rong còn không? Có bán hoa được không? Cha tôi thích tất cả các loài đào. Đào thắm ông thường dùng năm lẻ, khi mà ai nam giới sinh ở năm lẻ, đều bị hợp sao tinh chiếu vào làm âm (âm nam). Ông ví như xuân thêm lửa, xua cái khí lạnh, giữ xuân ấy thêm ấm thêm nồng. Nhưng có lẽ ông yêu nhất, thứ đào phai. Tâm hồn hoạ sĩ của ông rung động nhiều hơn khi rước hoa từ chợ về. Đốt gốc, mang cái cát-tút 105 li, mua ở chợ trời Ha-le rồi bảo tôi đánh sạch: tự ông cẩn thận chèn cành đào đứng thẳng giữa ống đồng sáng chói. Xuân đầy nụ, chớm hoa khoe cái màu hồng tưởng phai mà chưa khi nào phai trước thời gian! ngắm đi con! Những giọt hoa đọng lại, lấp lánh cơn mưa ông phun bằng cái máy xịt tay vẫn dùng xịt nước hành bảo quản tranh Sơn dầu.Đào phai loại cánh kép, phơn phớt trước Tết rồi qua Tết, sang xuân mỗi bông tàn, chầm chậm nhả buông từng lớp cánh, dần dần rụng xuống sàn đá lạnh. Và, một hôm bất chợt he hé cái mầm quả xanh, để theo sau Tết, hình thành một trái Đào. Đào phai, từng bông nở chậm, khoe sắc ấm nồng cũng chầm chậm từng lớp, phai dần ở lớp cánh đầu tiên, chứ không nở bừng ra màu đỏ thắm khoảnh nhà, để mà tàn, úa rụng chốc lát, tan nát cả xuống đất một lần. Sự sống của hoa đào phai cánh kép, làm ông gật gù bảo, cái kiếp một bông hoa, một loài cây, dâng hiến cho đời từng lớp, từng lớp, cả mầu lẫn cánh để cuối cùng hiện ra mầm sống mới, tựa hệt như vòng luân hồi của kiếp con người. 2. Trước Tết vài ngày, mẹ tôi cũng chọn chợ Đồng Xuân để sắm hàng Tết. Rồi tới cận ba mươi mới ra đầu chợ Hôm mà mua hoa cúng. Người chủ gia đình đàn ông đàn ang, sắm đào thì thôi quất. Người mẹ của chúng tôi lo hoa cho bàn thờ tổ tong. Bà chọn từng cành Huệ rất cẩn thận. Những búp hoa trắng muốt DeThi.edu.vn
- 12 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 11 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) thoang thoảng hương thanh bạch, e ấp dấu mình trong kẽ xanh chỉ đợi hơi hương khói là nhao ra trắng muôn muốt. Bắt đầu từ chiều ba mươi tới tận hôm hoá vàng, những bông huệ cứ âm thầm nhuộm một thứ hương như vậy loanh quanh bàn thờ. Có thay hoa mới cho lọ lục bình cổ, với các đường gốm ngọc rạn nứt, thì vẫn là những cành huệ, tươi mơn mởn, xanh như trước Tết, để khi nào cũng tinh khiết độc một loài hương. Thay vì lòng thành với tổ tiên đa dạng nữa, bên kia là những đoá hồng vàng hay thắm đỏ. Hoa cúng chọn cẩn trọng. Không cần to lắm, nhưng phải đều đặn công phu. Mẹ tôi chưa khi nào quên đĩa hoa cho chùa Hai Bà hay chùa Vua gần đó. Thường là tháng ba mới rộ ngâu. Nhưng muốn tìm vẫn có. Nhũng cành ngâu nhỏ, hoa vàng bé xíu, chín thoang thoảng, đặt bên những bông hồng cũng nhỏ, cẩn thận xếp bày lên đĩa “cho hộ vào chiếc làn để mợ sớm mai mồng một ra chùa”. Bông hồng thì nở, bông nhài thì thơm, hoa đại định hình từ lúc mới ra bé xíu, móng rồng cũng vậy, cho tới sói, ngâu, mộc không nhìn rõ trong lớp lá, phải tựa vào hương mới biết là hoa, đều gọi chung là chin. Ngâu vừa chin con ơi. Cha tôi bảo. 3. Thường là ở phòng khách bao giờ cũng có lọ hoa lớn. Cha tôi rất thường đặt tại đó một bình violet. Mầu tím ngắt lốm đốm trong sắc xanh nhọn chua chúa vươn lên từ cái bình gốm màu không chỉ ấm lòng bè bạn, không chỉ cho khách xuân thực sự nào xuân. Cũng phải chọn đúng màu bình. Đừng lạnh mà cũng không nóng quá, vì cái thứ pha màu giữa nơi đặt nó đứng đấy cũng nghiêm cẩn làm sao. Đôi năm ông chơi cúc. Những đoá cúc đại đoá thường trầm tĩnh đứng trong phòng tranh. Đại đoá mua tới hơn vài chục bông, phải hướng cho từng đoá không chen nhau san sát để từng bông khoe hết vẻ đẹp riêng mình. Chơi cúc lâu tàn. Nó giữ xuân ở lại miên man sau Tết, để Tết lặn vào những bức tranh khi hết ngày rong chơi. Anh tôi thì lại khác. Anh cứ thích giữa bàn nhà, phòng chính một bình hoa nhiều loại. Dăm bông Đồng tiền. Vài cành đủ nụ đủ hoa, đủ màu Thược dược. Giữa dăm loài hoa “quần chúng” ấy, dân dã ấy, anh tôi vẫn dành lại, vượt lên là dăm cành vi-ô-lét, chắc là trọng cái nết yêu hoa của cha tôi. Để ông và tôi cứ tủm tỉm cười với nhau, và tôi khi nhớ ra ngày Tết vẫn cười đến tận giờ. Vâng khi năm nay, bạn ơi - Hà Nội Hoa, tôi không về hương Tết, hoa Tết và ngoài kia tuyết gió hai tuần gào rú thổi Nước Đức, giáp Tết Mậu Tí (Hà Nội hoa - Nguyễn Văn Thọ, in trong 36 tạp văn, tuỳ bút Hà Nội, Quốc Văn (Tuyển chọn), NXB Thanh niên, 2010, tr.248 đến 252.) * Nguyễn Văn Thọ sinh năm 1948, quê thôn Đà, xã Quỳnh Khê, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, hiện đang sống tại làng Ngọc Hà, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, là một nhà văn, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1988 sang Cộng hòa Dân chủ Đức làm Đội trưởng lao động và ở lại CHLB Đức sau khi nước Đức thống nhất. Năm 2014, về định cư hẳn tại Hà Nội. Nguyễn Văn Thọ là một cây bút vạm vỡ, tài hoa. Dù viết về đề tài nào, Nguyễn Văn Thọ cũng tạo được ấn tượng. Ông viết nhiều thể loại, song thành công nhất với truyện ngắn. Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi sau: Câu 1. Văn bản “Hà Nội hoa” được viết theo thể loại nào? Câu 2. Viết Hà Nội hoa, tác giả đã cho ta thấy thú chơi nào của người Hà Nội trong dịp Tết? Câu 3. Theo nhân vật tôi, vì sao người cha thích nhất là thứ đào phai? DeThi.edu.vn
- 12 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 11 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) Câu 4. Trong phần 3 của văn bản, sự khác nhau trong cách chơi hoa của hai cha con đã thể hiện điều gì trong văn hoá chơi hoa của các thế hệ? Câu 5. Tác giả đã thể hiện tình cảm gì với thú chơi ngày tết của người Hà Nội? Câu 6. Theo em, thú chơi hoa tết có tồn tại ở địa phương của em không? Em cảm nhận như thế nào về thú chơi này? II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Anh/chị hãy viết bài văn thuyết minh về một Lễ hội Yên Thế. ----- HẾT----- DeThi.edu.vn
- 12 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 11 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) HƯỚNG DẪN CHẤM Phần Câu Nội dung Điểm I. ĐỌC HIỂU 5,0 1 Thể loại tuỳ bút 0,75 Viết Hà Nội hoa, tác giả đã cho ta thấy thú chơi hoa của người Hà Nội trong dịp 2 0,75 tết. Loài hoa người cha thích nhất là thứ đào phai, vì cách đào phai dâng hiến cho đời đó là từng bông nở chậm, chầm chậm khoe sắc, phai dần từng lớp từng lớp cả 3 1,0 mầu lẫn cánh, chầm chậm nhả bông để cuối cùng hiện ra mầm sống mới. Nó tựa như vòng luân hồi của kiếp con người. Từ sự khác nhau trong cách chơi hoa của hai cha con đã cho ta thấy có vừa có sự 4 1,0 tiếp nối vừa có sự sáng tạo trong thú chơi hoa của thế hệ sau với thế hệ trước. Qua văn bản, tác giả đã thể hiện sự trân trọng, niềm tự hào về nét đẹp văn hoá 5 0,5 truyền thống của người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung. HS có thể trả lời theo thực tế địa phương và nêu cảm nhận của mình về thú chơi 6 hoa ngày tết tại địa phương mình hợp lí không phản cảm không trái với thuần 1,0 phong mĩ tục của người Việt. II. LÀM VĂN Viết bài văn thuyết minh về một lễ hội văn hóa tại địa phương 5,0 a. Đảm bảo cấu trúc: Mở bài, giới thiệu khái quát về một lễ hội văn hóa tại địa phương. Thân bài, 0,5 thuyết minh làm rõ về nét đặc sắc của lễ hội văn hóa đó. Kết bài, khẳng định ý nghĩa của lễ hội văn hóa trong đời sống văn hóa tinh thần b. Xác định đúng vấn đề Thuyết minh về một lễ hội văn hóa tại địa phương: tên gọi lễ hội, địa điểm diễn 0,5 ra lễ hội. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách nhưng cần đảm bảo các yêu cầu sau: - Giới thiệu về lễ hội (0,25 điểm) - Nguồn gốc, lí do ra đời lễ hội văn hóa (một giai thoại, một sự kiện trong lịch sử liên quan đến lễ hội) (1,0 điểm) - Cảnh quan, không khí, diễn biến, các hoạt động diễn ra trong lễ hội, đối tượng tham gia lễ hội (1,5 điểm) 3,25 + Theo trình tự thời gian: Chuẩn bị - bắt đầu - các hoạt động của buổi lễ hội - kết thúc lễ hội + Theo trình tự không gian: Ngoài khu vực tổ chức lễ hội - Trong khu vực tổ chức lễ hội. - Nét đặc sắc nổi bật (đặc biệt) mang bản sắc riêng của lễ hội. (1,0 điểm) - Vai trò, ý nghĩa của lễ hội trong đời sống văn hóa của địa phương nói riêng và DeThi.edu.vn
- 12 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 11 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) của dân tộc ta nói chung (0,5 điểm) d. Chính tả, dùng từ, đặt câu 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt. e. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề thuyết minh; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng 0,5 tạo. Tổng 10,0 DeThi.edu.vn
- 12 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 11 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) ĐỀ SỐ 4 MA TRẬN ĐỀ THI GIỮA HỌC KỲ II - LỚP 11 MÔN: NGỮ VĂN Cấp độ tư duy Thành phần năng Số Mạch kiến thức Tỉ lệ Điểm Vận lực câu Biết Hiểu dụng - Truyện thơ Nôm 1 x 7,5% 0,75 Đọc hiểu - Thơ trữ tình 1 x 7,5% 0,75 (Tổng độ dài ngữ - Kí 1 x 7,5% 0,75 liệu sử dụng trong - Kiến thức tiếng Việt: BPTT lặp cấu 1 x 7,5% 0,75 đề không quá 1300 trúc; BPTT đối; Một số hiện tượng chữ) phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ 1 x 10% 1,0 thông thường. Viết 1 đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ): * * - Về một vấn đề xã hội 1 * 20% 2,0 - Về một vấn đề văn học (đặt ra từ VB đọc hiểu) Viết -Viết bài văn thuyết minh (khoảng 500 - 600 chữ): + Về một tác phẩm VH 1 * * * 40% 4,0 + Về một sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội Tổng 7 100% 10,0 DeThi.edu.vn



