Tổng hợp 9 Đề thi Văn vào 10 An Giang (Kèm đáp án)

docx 54 trang Đình Phong 08/03/2026 150
Bạn đang xem 25 trang mẫu của tài liệu "Tổng hợp 9 Đề thi Văn vào 10 An Giang (Kèm đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docxtong_hop_9_de_thi_van_vao_10_an_giang_kem_dap_an.docx

Nội dung text: Tổng hợp 9 Đề thi Văn vào 10 An Giang (Kèm đáp án)

  1. Tổng hợp 9 Đề thi Văn vào 10 An Giang (Kèm đáp án) - DeThi.edu.vn ĐÁP ÁN I. ĐỌC HIỂU Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Câu 2. Các nhân vật xuất hiện trong đoạn trích trên: nhân vật tôi (Phương Định), chị Thao, Nho. Câu 3. Phân loại theo cấu tạo, các câu: "Gió.", "Mưa." thuộc câu đặc biệt. Câu 4. - Từ "lúi húi" là từ tượng hình. Từ ngữ diễn tả hình dáng, gợi tả dáng về của chị Thao. - Từ "lạnh canh" là từ tượng thanh. Từ "lanh canh" diễn tả âm thanh gõ trên nóc hang. Câu 5. - Từ "ngôi sao" trong câu "Mà tôi nhớ một cái gì đấy, hình như mẹ tôi, cái cửa sổ, hoặc những ngôi sao to trên bầu trời thành phố" là danh từ chỉ sự vật. Đây là vật thể xuất hiện trên bầu trời vào ban đêm và phát ra ánh sáng. - Từ "ngôi sao" trong "Những ngôi sao xa xôi" là hình ảnh ẩn dụ cho vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất anh hùng của những nữ thanh niên xung phong. Câu 6. Gợi ý: - Cô vui thích cuống cuồng trước một cơn mưa đá. - Cô hồi tưởng về quá khứ, về tuổi học sinh, về căn nhà nhỏ bên quảng trường thành phố. Cô nhớ khuôn cửa sổ, nhớ những ngôi sao trên bầu trời Hà Nội, nhớ bà bán kem với lũ trẻ con háo hức vây quanh. Đó là những kí ức làm tươi mát tâm hồn cô trong hoàn cảnh chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh. => Vào chiến trường 3 năm, phải trải qua nhiều gian khổ, thiếu thốn song Phương Định vẫn giữ gìn vẹn nguyên, thế giới tâm hồn mình. Vẻ đẹp tâm hồn nhạy cảm, mơ mộng, giàu yêu thương. Đây là một minh chứng cho sức sống mãnh liệt của cô gái trẻ này. II. LÀM VĂN * Yêu cầu về hình thức: - Bài viết đảm bảo cấu trúc của một bài vǎn gồm 3 phần: + Mở bài: nêu được vấn đề. + Thân bài: triển khai được vấn đề. + Kết bài: khái quát được vấn đề. - Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. * Yêu cầu về nội dung: Bài viết đảm bảo những nội dung sau đây: 1. Mở bài: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm: DeThi.edu.vn
  2. Tổng hợp 9 Đề thi Văn vào 10 An Giang (Kèm đáp án) - DeThi.edu.vn + Thanh Hải: Là một nhà thơ cách mạng, sự nghiệp thơ văn của ông gắn với 2 cuộc kháng chiến của dân tộc. Thanh Hài để lại một số lượng tác phẩm không nhiều nhưng vẫn tạo được dấu ấn riêng nhờ vẻ đẹp bình dị, trong sáng, ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu, cảm xúc chân thành, đằm thắm. + Tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ được viết vào tháng 11 năm 1980 - thời điểm Thanh hải ốm nặng và chì mấy tuần lễ sau ông qua đời. - Nêu vấn đề nghị luận: Cảm xúc trước mùa xuân của thiên nhiên, đất nước và khát vọng đẹp đẽ của nhà thơ Thanh Hải qua đoạn trích. 2. Thân bài: a. Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân thiên nhiên: - Bài thơ được mở ra bằng khung cảnh thiên nhiên tươi sáng và tràn đầy sức sống: "Mọc giữa dòng sông xanh Hót chi mà vang trời" + Cấu trúc đảo ngữ ở câu thơ 1,2 gợi sức sống mạnh mẽ đến bất ngờ, khiến bông hoa như có cội rễ, tràn đầy sức xuân, sắc xuân. + Các hình ảnh "dòng sông" "bông hoa" "bầu trời" "chim chiền chiện" thật bình dị và gợi cảm, đã tái hiện một không gian cao rộng của mùa xuân với những hình ảnh đặc trưng của xứ Huế. + Màu sắc: "sông xanh" "hoa tím biếc" rất hài hòa, tươi sáng. Dòng sông xanh đã trở thành cái nền cho sắc tím của hoa, làm nổi bật vẻ đẹp sống động của mùa xuân. + Âm thanh: tiếng chim chiền chiện: là tin hiệu của một buổi sớm mùa xuân trong trẻo, mát lành; gợi không gian cao rộng của bầu trời tươi sáng, ấm áp; gợi liên tưởng đến những không đầy ắp màu xanh của một khu vườn quê với những vòm cây xanh mát hay một cánh đồng rộng lớn, bình yên. → Chỉ bằng vài nét phác, tác giả đã vẽ ra được khung cảnh mùa xuân tuyệt đẹp, đủ đầy hình ảnh, âm thanh, màu sắc, ứ đầy sức sống và đậm đà nét Huế. + Đối diện với vẻ đẹp ấy là cảm xúc say sưa, tươi vui của nhà thơ đang hòa mình vào đất trời: "Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng" + Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: có thể là giọt mưa xuân long lanh, có thể là âm thanh tiếng chim đang rót giữa đất trời. Ta không chì nghe thấy mà con nhìn thấy cả giọt âm thanh trong vắt. + Đại từ "tôi" + hành động "tôi hứng" thế hiện sự chiếm lĩnh, giao hòa của tác giả với mùa xuân. Câu thơ biểu hiện niềm say sưa, ngây ngất của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời. DeThi.edu.vn
  3. Tổng hợp 9 Đề thi Văn vào 10 An Giang (Kèm đáp án) - DeThi.edu.vn b. Cảm xúc của nhà thơ trước mùa xuân đất nước: - Nhà thơ khám phá, ca ngợi vẻ đẹp của mùa xuân đất nước: "Mùa xuân ... ... xôn xao" - Hệ thống điệp từ "mùa xuân", "lộc": gợi quang cảnh mùa xuân tươi đẹp, tràn đầy sức sống của chồi non lộc biếc; gợi những thành quả trong công cuộc xây dựng đất nước. - Hình ảnh "người cầm súng" "người ra đồng": được liệt kê đề vẽ lên hình ảnh đất nước tưng bừng, nhộn nhịp với hàng vạn con người đang góp sức mình cho mùa xuân của dân tộc. Hình ảnh "người cầm súng": phản ánh hiện thực gian khổ của chiến tranh [chiến tranh biên giới phía Bắc, phía Tây - Nam]. Lộc trên lưng vừa là hình ảnh cảnh lá ngụy trang vừa lả mùa xuân mà họ mang lại cho đất nước. H/a "người ra đồng": không khí lao động ở hậu phương. "Lộc trải dài nương mạ": mang đến những cánh đồng xanh tươi, những vụ mùa no ấm, mang lại sự sống. - Điệp từ "tất cả" + lặp cấu trúc ngữ pháp + các từ láy "hối hả" "xôn xao" diễn tả nhịp sống sôi động, tưng bừng, tràn đầy niềm vui, hạnh phúc. + Từ đó, thi nhân bày tỏ niềm tự hào về quê hương, đất nước và niềm tin vào tương lai: "Đất nước ... ... phía trước" + Tính từ "vất vả" "gian lao": đúc kết quá khứ, lịch sử dân tộc đầy đau thương, mất mát song cũng rất đáng tự hào. Đó là 4 ngàn năm dựng và giữ nước gian khổ mà hào hùng của cha ông ta. → Đoạn thơ bộc lộ lòng biết ơn, tự hào, kiêu hãnh với các thế hệ đã làm nên lịch sử hào hùng của đất nước. - So sánh "đất nước như vì sao" gợi vẻ đẹp tươi sáng của đất nước trên con đường đi tới tương lai; gợi niềm tin của tác giả vào 1 ngày mai tươi đẹp, phồn vinh của quê hương, đất nước. → Giọng thơ vừa tha thiết, sôi nổi, vưa trang trọng đã gói trọn niềm yêu mến, tự hào, tin tưởng của nhà thơ về đất nước. c. Khát vọng, lí tưởng sống cao đẹp của nhà thơ: - Mùa xuân đất nước đã khơi dậy trong lòng nhà thơ nhưng khát vọng sống cao quý: "Ta làm... ... xao xuyến" + Điệp từ "ta làm", lặp cấu trúc, liệt kê -> giúp tác giả bày tỏ ước nguyện được hiến dâng cuộc đời mình cho quê hương, xứ sở. + Các hình ảnh "con chim hót" "một cánh hoa" "nốt nhạc trầm": giản dị, tự nhiên mà đẹp, thể hiện ước nguyện khiêm nhường mà đáng quý. + Có sự ứng đối với các hình ảnh ở đầu bài thơ -> lí tưởng cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên, tất yếu; gợi liên tưởng đến mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người - đất nước. → Tấm lòng thiết tha được hòa nhập, được cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước. DeThi.edu.vn
  4. Tổng hợp 9 Đề thi Văn vào 10 An Giang (Kèm đáp án) - DeThi.edu.vn + Khát vọng sống đẹp được nâng lên thành lí tưởng sống cao cả" "Một mùa xuân... ... khi tóc bạc" + "Mùa xuân nho nhỏ": ẩn dụ cho những gì đẹp nhất, tinh túy nhất của cuộc đời con người để góp phần làm nên mùa xuân của đất nước. Là cách nói khiêm nhường, giản dị, gợi một tâm hồn đẹp, một lối sống đẹp, một nhân cách đẹp "lặng lẽ dâng cho đời". + Điệp từ "dù là" + hình ảnh tương phản "tuổi hai mươi" - "khi tóc bạc" khẳng định sự tồn tại bền vững của những khát vọng và lí tưởng sống ấy. Cả cuộc đời mình ông vẫn muốn chắt chiu những gì tốt đẹp nhất để hiến dâng cho đời. → Khổ thơ là lời tổng kết của nhà thơ về cuộc đời mình. Cho đến tận cuối đời ông vẫn khát khao cống hiến cho đất nước. DeThi.edu.vn
  5. Tổng hợp 9 Đề thi Văn vào 10 An Giang (Kèm đáp án) - DeThi.edu.vn ĐỀ SỐ 3 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT AN GIANG NĂM HỌC 2023 - 2024 Môn thi: Ngữ Văn Thời gian: 120 phút (không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm) Đọc kĩ văn bản và thực hiện các yêu cầu bên dưới: Niên khóa 1935- 1936, có một giáo sư khoảng 40 tuổi, đậu như từ trường Thành Chung, Lạng Sơn đổi về dạy lớp tôi. Lần đầu gặp, tôi thấy ở người thầy giáo mới này một vẻ gì đó rất nho nhã, rất đáng yêu và dĩ nhiên đáng kính. Đó là thầy Hoàng Ngọc Phách, dạy môn văn. Đến khi tôi lập gia đình, một điều không ngờ hóa ra ông trời run rủi thế nào mà vợ tôi lại là chị con bác của thầy Hoàng Ngọc Phách. Một ngày Tết, ở thị xã Bắc Ninh, tôi và vợ đến chúc tết họ hàng nội ngoại thì người thầy rất kính yêu của mình lại chạy ngay ra cửa đón chào, gọi tôi bằng bác. Một điều "thừa bác”, hai điều “thưa bác” khiến lúc đầu tôi rất lúng túng, ngượng nghịu chưa biết xưng hô như thế nào. Còn vợ tôi thì cứ thản nhiên gọi thầy giáo của tôi bằng “cậu” và tự xưng là “chị”, mặc dù vợ tôi kém “cậu em” đến trên 20 tuổi. Thế mới biết, cách xưng hô ở ngôn ngữ của ta thật là khó vì nỗi quá chi li khe khắt, quá phức tạp trong quan hệ họ hàng, xã hội. Tôi tự trấn tĩnh và nói với thầy: - Năm mới, con đến chúc thầy và gia đình có nhiều sức khỏe và thành đạt trong mọi việc của đời sống ạ! - Khi trở về nhà, vợ tôi phàn nàn: - Sao mình lại xưng “con” với cậu ấy? Cậu ấy là em mình chứ Tôi cười, đáp: - Anh phải tôn trọng cái điều có trước. Trước khi làm chồng em, anh đã là học trò của ông Phách từ lâu rồi. Người thầy giáo ấy đã có công lớn đào tạo được ra anh hôm nay đấy em ạ! (Theo hồi tưởng của nhà thơ Hoàng Cầm, trích Thầy tôi, NXB Trẻ, 2004) Câu 1. Cho biết phương thức biểu đạt chính của văn bản? (0,5 điểm) Câu 2. Xác định từ loại (danh từ, động từ, tính từ) trong các từ sau: thầy giáo, chạy, khó, học trò. (0,5 điểm) Câu 3. Với vai họ hàng, người thầy Hoàng Ngọc Phách gọi nhân vật “tôi” (học trò của mình) bằng gì? (0,5 điểm) Câu 4. Nội dung chính của văn bản? (0,5 điểm) Câu 5. Tìm các từ thuộc một trường từ vựng và đặt tên cho trường từ vựng đó. (1.0 điểm) Câu 6. Em suy nghĩ như thế nào về lời đáp của nhân vật “tôi” với vợ: DeThi.edu.vn
  6. Tổng hợp 9 Đề thi Văn vào 10 An Giang (Kèm đáp án) - DeThi.edu.vn “Anh phải tôn trọng cái điều có trước. Trước khi làm chồng em, anh đã là học trò của ông Phách từ lâu rồi. Người thầy giáo ấy đã có công lớn đào tạo được ra anh hôm nay đấy em ạ! (1,0 điểm) II. LÀM VĂN (6.0 điểm) Cảm nhận về tâm trạng nhân vật ông Hai (trong truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân), từ lúc ông nghe tin làng mình theo giặc và khi tin ấy được cải chính. ---------HẾT--------- DeThi.edu.vn
  7. Tổng hợp 9 Đề thi Văn vào 10 An Giang (Kèm đáp án) - DeThi.edu.vn ĐÁP ÁN I. ĐỌC HIỂU Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: tự sự. Câu 2: Danh từ: thầy giáo, học trò. Động từ: chạy. Tính từ: khó. Câu 3: Trong vai họ hàng thầy đã gọi nhân vật tôi là bác. Câu 4: Nội dung chính của văn bản: Sự tôn trọng của người học trò với người thầy giáo đã có công lớn đào tạo mình. Câu 5: Trường từ vựng xưng hô: vợ, bác, cậu, mình, chị con. Câu 6: Câu nói của người chồng cho thấy anh là người tôn sư trọng đạo, trân trọng và tôn quý những gì thầy đã giảng dạy cho mình. Qua đó còn thấy được nhân vật tôi là người sống “biết trước biết sau”, trân trọng, biết ơn công lao người đã dìu dắt mình. II. LÀM VĂN 1. Mở bài - Giới thiệu tác giả Kim Lân và truyện ngắn Làng: + Nhà văn Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn, ông vốn am hiểu và gắn bó sâu rộng với cuộc sống nông thôn, Làng là truyện ngắn xuất sắc của ông. + Dẫn dắt nội dung nghị luận: diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai từ lúc ông nghe tin làng mình theo giặc và khi tin ấy được cải chính. 2. Thân bài a. Khái quát về nhân vật và tình huống của nhân vật ông Hai- Nhân vật ông Hai người nông dân yêu, tự hào về làng, mọi niềm vui, nỗi buồn của ông đều xoanh quay chuyện làng chợ Dầu. + Ở nơi tản cư ông luôn nhớ về làng, khoe làng của mình với mọi người. - Nhân vật được đặt trong tình huống ngặt nghèo có tính thử thách để nhân vật bộc lộ tâm trạng, tình yêu làng của mình: ở nơi tản cư, ông Hai nghe tin làng chợ Dầu theo giặc làm Việt gian. b. Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai từ lúc ông nghe tin làng mình theo giặc và khi tin ấy được cải chính. - Khi đang vui mừng tin thắng trận ở khắp nơi thì ông Hai nghe tin dữ: làng chợ Dầu theo giặc làm Việt gian, ông bất ngờ, choáng váng (Cổ ông nghẹn ắng lại như không thở được). - Ông cố trấn tĩnh bản thân, ông hỏi lại như thể không tin vào những điều vừa nghe thấy nhưng người phụ nữ tản cư khẳng định chắc chắn khiến ông Hai sững sờ, ngượng ngùng, xấu hổ (ông cố làm ra vẻ bình thản, đánh trống lảng ra về). + Cổ ông lão nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân ông lão lặng đi tưởng như không thở được. DeThi.edu.vn
  8. Tổng hợp 9 Đề thi Văn vào 10 An Giang (Kèm đáp án) - DeThi.edu.vn - Về tới nhà ông tủi hổ, lo lắng khi thấy đàn con (nước mắt lão cứ dàn ra, chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư?) + Niềm tin, sự ngờ vực giằng xé mạnh trong tâm trạng ông Hai - Nghe thấy tiếng chửi bọn Việt gian “ông cúi gằm mặt xuống mà đi”, nỗi tủi hổ khiến ông không dám ló mặt ra ngoài + Lúc nào cũng nơm nớp lo sợ, thấy đám đông tụ tập nhắc tới hai chữ Camnhông, Việt gian ông lại chột dạ. →Tác giả diễn đạt cụ thể nỗi lo lắng, sợ hãi tới mức ám ảnh thường xuyên của ông Hai, trong tâm trạng ông lúc nào cũng thường trực nỗi đau xót, tủi hổ trước tin làng mình theo giặc. - Tình yêu làng quê và tình yêu làng trong ông có cuộc xung đột lớn, gay gắt. Ông Hai dứt khoát chọn theo cách mạng “Làng yêu thì yêu thật, nhưng làng theo giặc thì phải thù”. + Tình yêu nước rộng lớn bao trùm lên tình yêu làng, dù xác định như thế nhưng trong lòng ông vẫn chan chứa nỗi xót xa, tủi hổ. + Ông Hai tiếp tục rơi vào bế tắc, tuyệt vọng khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi nơi khác - Đoạn văn diễn tả cảm động, chân thật nỗi đau sâu xa trong lòng và sự chân thành của nhân vật ông Hai - Ông Hai chỉ biết tâm sự nỗi lòng mình với đứa con chưa hiểu sự đời. Lời nói của ông với con thực chất là lời nói để ông tỏ lòng mình: nỗi nhớ, tình yêu làng, sự thủy chung với kháng chiến, cách mạng - Khi nghe tin cải chính, ông Hai như sống lại, mọi nỗi xót xa, tủi hờn, đau đớn tan biến, thay vào đó là niềm hân hoan, hạnh phúc hiện lên trên khuôn mặt, cử chỉ, điệu cười của ông (dẫn chứng trong văn bản) c. Thành công nghệ thuật miêu tả tâm trạng nhân vật - Đặt tâm trạng nhân vật vào tình huống thử thách để khai thác chiều sâu tâm trạng - Thể hiện tâm trạng nhân vật tài tình, cụ thể qua ngôn ngữ đối thoại, độc thoại, và độc thoại nội tâm qua ý nghĩ, hành vi, cử chỉ. + Ngôn ngữ đậm chất khẩu ngữ và lời ăn tiếng nói của người nông dân, và thế giới tinh thần của người nông dân. 3. Kết bài - Tâm trạng nhân vật ông Hai được thể hiện qua nhiều cung bậc tinh tế, chân thật, đa dạng: diễn tả đúng, gây ấn tượng mạnh mẽ về sự ám ảnh, day dứt trong tâm trạng nhân vật. - Ông Hai người yêu làng mạnh mẽ, say sưa, hãnh diện thành thói quen khoe làng, qua tình huống thử thách tình cảm đó càng trở nên sâu sắc hơn. - Chứng tỏ Kim Lân am hiểu sâu sắc về người nông dân và thế giới tinh thần của họ. DeThi.edu.vn
  9. Tổng hợp 9 Đề thi Văn vào 10 An Giang (Kèm đáp án) - DeThi.edu.vn ĐỀ SỐ 4 SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT AN GIANG NĂM HỌC 2022 - 2023 Môn thi: Ngữ Văn Thời gian: 120 phút (không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm) Đọc văn bản: [1] Ở một ngôi làng nọ, có người đàn ông trung niên sống với đứa con trai. Một hôm trời đẹp, người cha rủ con trai đi vào rừng dạo chơi. Cậu con trai vô cùng hào hứng đi cùng bố. Hai cha con đi đến đoạn đường uốn lượn thì dừng lại. Trong một phút trầm lặng ngắn ngủi, người cha hỏi con: "Con trai! Ngoài tiếng chim đang hót ra, con còn nghe được tiếng gì khác không?" Cậu bé sau một hồi lắng nghe liền trả lời cha: "Cha ơi, con còn nghe được cả tiếng xe ngựa nữa ạ! Người cha nói tiếp: "Đúng rồi! Đó là một chiếc xe ngựa trống, không có gì cả." Cậu con trai ngạc nhiên hỏi lại: "Chúng ta còn chưa nhìn thấy nó, sao cha lại biết đó là chiếc xe ngựa trống rỗng?" Người cha đáp: "Từ âm thanh con có thể dễ dàng nhận ra đó là một chiếc xe trống không. Xe ngựa càng trống rỗng thì âm thanh sẽ càng to." Về sau này, cậu con trai trưởng thành, là một người thông minh, giỏi giang và thành đạt. Mỗi lần cậu chứng kiến một ai đó dùng lời lẽ ba hoa, thô lỗ để nói chuyện, tự cho là mình đúng, tự cao tự đại, hạ thấp người khác thì câu đều nhớ đến lời nói của cha vẫn như đang văng vẳng bên tai mình: "Xe ngựa càng trống rỗng thì âm thanh sẽ càng to." [2] Người có thể dùng tâm thái bình tĩnh, khiêm nhường để nói chuyện với người khác thì sẽ tránh được việc cãi vã, hiềm khích git̀a đôi bên. Người như vậy cũng sẽ càng học được cách lắng nghe, thấu cảm với người khác, mà lại không cường điệu, khoa trương chính mình! Cho nên, sông sâu tĩnh lặng, lúa chín cúi đầu luôn là phương châm tu dưỡng đạo đức, quan hệ ứng xử cần thiết trong cuộc sống của mỗi người. (Theo Báo Giáo dục và Thời đại Online, Người càng hiểu biết càng khiêm nhường, 03/8/2016) Trả lời các câu hỏi sau: Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của phần [1] văn bản. (0,5 điểm) Câu 2. Xét về thành phần câu, cụm từ: "Cha ơi" trong câu: "Cha ơi, con còn nghe được cả tiếng xe ngựa nữa ạ!" thuộc thành phần biệt lập gì? (0,5 điểm) Câu 3. Xác định tên và chỉ ra phần phụ trước, phà̀n trung tâm và phần phụ sau của cụm từ: "một chiếc xe trống không". (0,5 điểm) DeThi.edu.vn
  10. Tổng hợp 9 Đề thi Văn vào 10 An Giang (Kèm đáp án) - DeThi.edu.vn Câu 4. Em hiểu như thế nào về nội dung ý nghĩa hai cụm từ: "sông sâu tĩnh lặng, lúa chín cût đầu"? (0,75 điểm) Câu 5. Nếu thay từ "cúi" bằng từ "gục" trong cụm từ: "lúa chín cúi đầu" thì ý nghĩa cụm từ có thay đổi không? Vì sao? ( 0,75 điểm) Câu 6. Hãy nêu bài học ý nghĩa nhất đối với em rút ra từ văn bản trên. (1,0 điểm) II. LÀM VĂN (6.0 điểm) Cảm nhận về bức tranh thiên nhiên và con người lao động qua các khổ thơ sau trích từ bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận: Mặt trời xuống biển như hòn lửa. Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi. [...] Thuyền ta lái gió với buồm trăng Lướt giữa mây cao với biển bằng. Ra đậu dặm xa dò bụng biển, Dàn đan thế trận lưới vây giăng. [...] Ta hát bài ca gọi cá vào, Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao. Biển cho ta cá như lòng mẹ Nuôi lớn đời ta tự buổi nào. Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng, Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng. Váy bạc đuôi vàng lóe rạng đông, Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng. Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời. Mặt trời đội biển nhô màu mới, Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi. Hồng Gai, 4-10-1958 (Ngữ văn 9, Tập một, NXBGD 2005, trang 139-140) ---------HẾT--------- DeThi.edu.vn