14 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 9 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức)
Bạn đang xem 25 trang mẫu của tài liệu "14 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 9 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
14_de_thi_giua_hoc_ki_2_mon_ngu_van_9_co_ma_tran_dap_an_ket.docx
Nội dung text: 14 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 9 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức)
- 14 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 9 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) Câu 2 (0.5 điểm). Nhân vật trữ tình trong đoạn thơ trên là ai? Câu 3 (1.0 điểm). Tìm trong văn bản những hình ảnh người con đã nhớ đến khi bị thương nằm lại mùa mưa. Câu 4 (1.0 điểm). Trình bày hiệu quả của biện pháp tu từ điệp ngữ được sử dụng trong khổ thơ (1), (2) của đoạn thơ trên. Câu 5 (0.5 điểm). Em hãy nêu ý nghĩa của hai câu thơ: “ Con nói mớ những núi rừng xa lạ Tỉnh ra rồi, có mẹ, hoá thành quê!” Câu 6 (0.5 điểm). Những thông điệp em rút ra sau khi đọc đoạn thơ trên là gì? II. VIẾT Câu 1 (2.0 điểm). Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em sau khi đọc đoạn trích trong bài thơ “Mẹ” của nhà thơ Bằng Việt ở phần Đọc. (Trích Mẹ, Bằng Việt, Tác phẩm chọn lọc, NXB Hội Nhà Văn, tr.124) Câu 2 (4.0 điểm). Có ý kiến cho rằng: Nếu cuộc sống là một bữa tiệc, thì đam mê chính là món ăn khai vị – nó không thể thiếu, và bạn sẽ đòi hỏi thêm nhiều phần nữa, cho dù bữa tiệc đã kết thúc. Từ đó em hãy viết một bài văn nghị luận bàn về vấn đề: “Làm thế nào để đánh thức được đam mê trong mỗi học sinh?” ---- HẾT----- DeThi.edu.vn
- 14 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 9 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) ĐÁP ÁN Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC 4,0 1 Đoạn thơ được viết theo thể thơ nào ? - Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ: Tám chữ. 0,5 - Hướng dẫn chấm: + Trả lời đúng như đáp án: 0,5 điểm. + Trả lời sai, không trả lời: 0,0 điểm. 2 Nhân vật trữ tình trong đoạn thơ trên là ai? - Nhân vật trữ tình trong đoạn thơ trên là: Người con/ tác giả. 0,5 - Hướng dẫn chấm: + Trả lời đúng như đáp án: 0,5 điểm; + Trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm. 3 Tìm trong văn bản những hình ảnh người con đã nhớ đến khi bị thương 1.0 nằm lại mùa mưa. - Theo văn bản, khi bị thương nằm lại mùa mưa, người con đã nhớ đến những hình ảnh: + dáng mẹ ân cần mà lặng lẽ; + nhà yên ắng; + gió từng hồi trên mái lá; + vườn cây che bóng kín sau nhà; + những dãy bưởi sai + những hàng khế ngọt; + nhãn đầu mùa, chim đến bói - Hướng dẫn chấm: + Trả lời đúng 06 hình ảnh trở lên như đáp án: 1.0 điểm; + Trả lời đúng 04 đến 05 hình ảnh như đáp án: 0,5 điểm; + Trả lời đúng 02 đến 03 hình ảnh như đáp án: 0,25 điểm; + Trả lời dưới 02 hình ảnh, trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm. 4 Trình bày hiệu quả của biện pháp tu từ điệp ngữ được sử dụng trong 1.0 khổ (1), (2) của đoạn thơ trên. - HS chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ (1), (2) của đoạn thơ trên là điệp từ: “Nhớ” - Hiệu quả: + Làm cho đoạn thơ giàu tính nhạc, giàu nhịp điệu, tạo sự liên kết chặt chẽ, hấp dẫn. + Nhấn mạnh nỗi nhớ da diết, thường trực của người con về mẹ và quê hương. Nỗi nhớ ấy không chỉ là những hình ảnh cụ thể về dáng mẹ, vườn cây, mà còn là nỗi nhớ về tình yêu thương, sự chăm sóc mà mẹ đã dành cho DeThi.edu.vn
- 14 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 9 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) con. + Qua đó nhắc nhở chúng ta tình cảm trân trọng, yêu thương, gắn bó với mẹ và quê hương. Hướng dẫn chấm: + HS chỉ đúng biện pháp điệp từ: 0,25 điểm. + Trả lời đúng 3 hiệu quả như đáp án: 0,75 điểm; trả lời đúng 2 hiệu quả như đáp án cho 0,5 điểm; trả lời đúng 1 hiệu quả như đáp án cho 0,25 điểm. * Lưu ý: Nếu thí sinh có cách diễn đạt khác nhưng đảm bảo đủ ý, đúng bản chất vấn đề vẫn cho điểm tối đa. 5. Em hãy nêu ý nghĩa của hai câu thơ: 0,5 “Con nói mớ những núi rừng xa lạ Tỉnh ra rồi, có mẹ, hoá thành quê!” - Ý nghĩa của hai câu thơ: Con nói mớ những núi rừng xa lạ Tỉnh ra rồi, có mẹ, hoá thành quê! + Hai câu thơ có sức khái quát lớn bởi mẹ không chỉ là một cá nhân nữa, mẹ chính là đại diện cho bao bà mẹ miền Nam khác hết lòng thương yêu chiến sỹ như con đẻ; + Chính tình thương yêu mà mẹ dành cho người chiến sĩ đã khiến cho mảnh đất xa lạ trở nên gắn bó, thân thuộc như chính quê hương mình. Hướng dẫn chấm: + Nêu đúng cách hiểu như đáp án: 0,5 điểm; + Nêu đúng 1 trong 2 cách hiểu như đáp án cho 0,25 điểm. + Trả lời sai, không trả lời: 0,0 điểm. * Lưu ý: Nếu thí sinh có cách diễn đạt khác nhưng đảm bảo đúng ý nghĩa của hai câu thơ vẫn cho điểm tối đa. 6. Những thông điệp em rút ra sau khi đọc đoạn thơ trên là gì? 0,5 HS có thể rút ra những thông điệp như sau: - Cần phải trân trọng, biết ơn và ghi nhớ suốt đời những tình cảm sâu đậm và thiêng liêng mà cha mẹ, anh chị, người thân dành cho mình. - Tình mẫu tử là tình cảm cao đẹp nhất trên đời. - Tình cảm quân dân thiêng liêng như tình máu mủ. Hướng dẫn chấm: + Nêu được 02 thông điệp hợp lí trở lên: 0,5 điểm. + Nêu được 01 thông điệp hợp lí: 0,25 điểm. + Thông điệp không hợp lí hoặc không nêu: 0,0 điểm. * Lưu ý: Nếu thí sinh nêu các thông điệp khác nhưng hợp lí vẫn cho điểm tối đa. II VIẾT 6,0 1 Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em sau khi đọc 2,0 DeThi.edu.vn
- 14 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 9 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) đoạn trích trong bài thơ Mẹ của nhà thơ Bằng Việt ở phần Đọc. (Trích Mẹ, Bằng Việt, Tác phẩm chọn lọc, NXB Hội Nhà Văn, tr.124) a. Xác định được yêu cầu về hình thức đoạn văn 0,25 Bảo đảm yêu cầu về hình thức đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, b. Xác định đúng vấn đề: Cảm nghĩ về đoạn thơ 0,25 c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu 1,0 HS lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp. Có thể như sau: - Giới thiệu đoạn thơ và nêu cảm xúc chung của cá nhân về đoạn thơ. - Nêu cảm nghĩ về nội dung của đoạn thơ: Đoạn thơ nói về những kỷ niệm khi tác giả tham gia ngoài tuyến lửa đã bị thương và được người mẹ ở hậu phương nơi đó yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc tận tình. + Mở đầu bài thơ là những hồi tưởng lại hoàn cảnh của tác giả + Mẹ dành tất cả mọi tình thương cho con dù không phải là máu mủ, ruột thịt + Mẹ và tình yêu thương của mẹ đã khiến mảnh đất xa lạ hóa thành quê hương... - Nêu cảm nghĩ về những yếu tố nghệ thuật và tác dụng của những yếu tố nghệ thuật trong thể hiện nội dung của đoạn thơ như: + Cảm xúc chân thành, thiêng liêng, mạch thơ uyển chuyển, tự nhiên; + Ngôn từ giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh; + Các biện pháp tu từ đặc sắc (điệp từ “nhớ”, liệt kê ); + Sáng tạo thể thơ 8 chữ; cách gieo vần, ngắt nhịp linh hoạt góp phần khơi gợi những cảm xúc chân thành trong sáng - Khái quát cảm nghĩ về đoạn thơ. d. Diễn đạt 0,25 Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. đ. Sáng tạo 0,25 Thể hiện cảm nghĩ sâu sắc về đoạn thơ, có cách diễn đạt mới mẻ. 2 Có ý kiến cho rằng: 4,0 Nếu cuộc sống là một bữa tiệc, thì đam mê chính là món ăn khai vị – nó không thể thiếu, và bạn sẽ đòi hỏi thêm nhiều phần nữa, cho dù bữa tiệc đã kết thúc. Từ đó em hãy viết một bài văn nghị luận bàn về vấn đề: “Làm thế nào để đánh thức được đam mê trong mỗi học sinh?” a. Đảm bảo bố cục của bài văn nghị luận 0,25 Bảo đảm yêu cầu về bố cục của bài văn. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận 0,5 DeThi.edu.vn
- 14 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 9 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) Giải pháp để đánh thức đam mê trong mỗi học sinh. c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu 2,5 Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng, trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng: 1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận 2. Thân bài: 0.25 a. Giải thích bản chất của vấn đề: Đam mê là sự yêu thích, hứng thú đặc biệt đối với một lĩnh vực, hoạt động nào đó. Khi có đam mê, ta sẽ dồn hết 0.25 tâm huyết, thời gian và công sức để theo đuổi, khám phá và phát triển nó. Đam mê không chỉ mang lại niềm vui, sự thỏa mãn mà còn giúp ta phát huy tối đa tiềm năng, đạt được những thành tựu trong cuộc sống. b. Vai trò, ý nghĩa của đam mê: Đam mê có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống. + Đam mê là ngọn lửa bên trong bạn. Nếu bạn nhen nhóm nó đúng cách, 0,25 bạn có thể chuyển nó thành một nguồn năng lượng vô tận, động viên bạn vượt qua những thách thức, đối mặt với những khó khăn và đó là chìa khóa trên con đường đến thành công. + Đam mê còn giúp con người phát huy tối đa tiềm năng, giới hạn năng lực của bản thân. Khi làm việc bằng niềm đam mê, con người sẽ tập trung cao độ, dồn hết tâm sức vào công việc. + Đam mê không chỉ giúp con người đạt được thành công, mà còn mang lại niềm vui và hạnh phúc c. Bàn luận: *Thực trạng: Trong xã hội hiện đại, nhiều học sinh đang mất dần niềm đam mê học tập và khám phá. Áp lực học hành, thi cử, cùng với sự ảnh hưởng của môi trường sống khiến không ít bạn trẻ cảm thấy mệt mỏi, chán nản và 0,5 mất phương hướng. Thay vì dành thời gian tìm hiểu sở thích, đam mê của bản thân, nhiều bạn lại chạy theo những giá trị ảo, những trào lưu nhất thời, dẫn đến sự lãng phí thời gian và tiềm năng. * Nguyên nhân: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. - Thứ nhất, do áp lực học tập quá lớn, học sinh không có thời gian để khám phá sở thích của mình. - Thứ hai, do sự định hướng nghề nghiệp chưa đúng đắn từ gia đình và nhà trường. Nhiều bậc phụ huynh và thầy cô giáo thường áp đặt suy nghĩ, mong muốn của mình lên con em, khiến các em không có cơ hội được tự do lựa chọn và theo đuổi đam mê. - Thứ ba, do sự thiếu các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ học thuật và nghệ thuật trong nhà trường, khiến học sinh không có cơ hội được tiếp xúc và trải nghiệm nhiều lĩnh vực khác nhau. DeThi.edu.vn
- 14 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 9 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) * Hậu quả: - Nếu vấn đề không được giải quyết, học sinh sẽ mất dần niềm vui học tập, trở nên thụ động và thiếu sáng tạo. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của các em. - Khi không có đam mê, các em sẽ khó khăn trong việc lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, dẫn đến sự lãng phí tài năng và tiềm năng. d. Ý kiến trái chiều Có ý kiến cho rằng, việc học sinh tập trung vào học tập là quan trọng nhất, không nên quá chú trọng vào việc tìm kiếm đam mê. Tuy nhiên, quan điểm này là chưa toàn diện. Đam mê không hề đối lập với việc học tập, mà ngược lại, nó còn là động lực mạnh mẽ giúp học sinh học tập hiệu quả hơn. Khi có 0,25 đam mê, các em sẽ tự giác học hỏi, tìm tòi và khám phá kiến thức, từ đó đạt được kết quả học tập tốt hơn. e. Đề xuất giải pháp - Học sinh: Cần chủ động khám phá bản thân: Tìm hiểu sở thích, điểm mạnh, điểm yếu của mình thông qua việc trải nghiệm nhiều hoạt động khác nhau; không ngừng học hỏi và rèn luyện: Đọc sách, tham gia các khóa học, tìm hiểu thông tin trên internet,... để mở rộng kiến thức và phát triển kỹ năng. - Gia đình: Sự ủng hộ và đồng hành của gia đình cũng là yếu tố quan trọng 0.75 giúp học sinh tự tin khám phá và theo đuổi đam mê. -Nhà trường: Cần tạo ra môi trường giáo dục mở, khuyến khích học sinh chủ động khám phá và phát triển đam mê. Các trường học áp dụng phương pháp giáo dục tiên tiến, chú trọng phát triển toàn diện học sinh thường có tỷ lệ học sinh tìm được đam mê và đạt thành tích cao trong học tập và cuộc 0,25 sống cao hơn. . 3. Kết bài: Khẳng định lại ý kiến về tầm quan trọng của việc khắc phục, giải quyết vấn đề; và rút ra bài học nhận thức, hành động cho thế cho bản thân. d. Diễn đạt 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. đ. Sáng tạo 0,5 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ. * Cách cho điểm: - Điểm từ 3,25- 4,0: Đảm bảo tốt các yêu cầu trên, vận dụng các thao tác lập luận chặt chẽ, thuyết phục; văn viết mạch lạc, cảm xúc, có hình ảnh; không mắc lỗi chính tả, diễn đạt. - Điểm từ 2,5- 3,0: Đảm bảo tương đối đầy đủ hoặc chưa thật đầy đủ các yêu cầu nêu trên nhưng có ý sâu sắc; vận dụng các thao tác lập luận tương đối chặt chẽ. Còn mắc một số lỗi chính tả, diễn đạt. - Điểm từ 1,5- 2,25: Đảm bảo cơ bản các yêu cầu trên; lập luận chưa thật thuyết phục. Mắc nhiều lỗi chính tả, diễn đạt. DeThi.edu.vn
- 14 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 9 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) - Điểm 0,25- 1,25: Đảm bảo các yêu cầu trên ở mức độ sơ sài, chưa biết lập luận; chưa biết đánh giá; hành văn còn lủng củng, mắc nhiều lỗi chính tả, diễn đạt. - Điểm 0,0: Không làm bài. ĐIỂM TOÀN BÀI THI I + II = 10,0 điểm * Lưu ý chung: - Giám khảo cần linh hoạt khi vận dụng đáp án, tránh hiện tượng chấm quá rộng hoặc quá chặt, chấm qua loa, đếm ý cho điểm. - Những cách triển khai hợp lí, kiến giải riêng thuyết phục đều được chấp nhận và khuyến khích những bài có ý tưởng sáng tạo. - Thang điểm trên đây là điểm tối đa cho mỗi phần. Nếu thí sinh chưa đáp ứng tốt những yêu cầu về kĩ năng thì không đạt được điểm tối đa. - Sau khi chấm điểm từng câu, giám khảo cân nhắc để cho điểm toàn bài một cách hợp lí, đảm bảo đánh giá đúng trình độ thí sinh, khuyến khích sự sáng tạo. - Đảm bảo toàn bài lẻ đến 0,25 điểm, không làm tròn. ĐỀ SỐ 3 MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KỲ 2 – LỚP 9 MÔN: NGỮ VĂN A. MỤC TIÊU Thu thập thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình đối với học sinh trong suốt quá trình học tập môn học từ đầu học kì II đến giữa học kì II, môn Ngữ văn lớp 9. Khảo sát bao quát một số kĩ năng theo các yêu cầu cần đạt trong chương trình với mục đích đánh giá phẩm chất, năng lực chung, năng lực đặc thù và sự tiến bộ của học sinh thông qua các hoạt động đọc, viết của học sinh với hình thức bài kiểm tra tại lớp. B. HÌNH THỨC KIỂM TRA 1. Hình thức: Kiểm tra hoàn toàn tự luận. 2. Cách tổ chức kiểm tra: Học sinh kiểm tra tập trung. C. NỘI DUNG I. LIỆT KÊ CÁC ĐƠN VỊ BÀI HỌC Bài 6: NHỮNG VẤN ĐỀ TOÀN CẦU (Văn bản nghị luận xã hội) * Phần đọc: - Đấu tranh cho một thế giới hoà bình (G.G. Mát-két) - Bài phát biểu của Tổng thư kí liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (An-tô-ni-ô Gu-tê-rét) - Đọc kết nối: Những điều cần biết để an toàn trong không gian mạng (UNICEF Việt Nam) - Đọc mở rộng: Bản sắc dân tộc: cái gốc của mọi công dân toàn cầu (Nam Lê – Như Ý) * Phần Thực hành Tiếng Việt: Lựa chọn câu đơn - câu ghép, các kiểu câu ghép và các phương tiện nối các vế câu ghép. DeThi.edu.vn
- 14 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 9 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) * Phần viết: Viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết. * Phần nói, nghe: Trình bày ý kiến về một sự việc có tính thời sự. Bài 7: HÀNH TRÌNH KHÁM PHÁ SỰ THẬT (Truyện trinh thám) * Phần đọc: - Chiếc mũ miện dát đá Be-rô (A-thơ Cô-nan Doi-lơ) - Ngôi mộ cổ (Phạm Cao Củng) - Đọc kết nối: Cách suy luận (Ren-sâm Rít) - Đọc mở rộng: Kẻ sát nhân lộ diện (Sac-lơ Uy-li-am) * Phần Thực hành Tiếng Việt: Câu rút gọn và câu đặc biệt: đặc điểm và chức năng. * Phần viết: Viết một truyện kể sáng tạo. * Phần nói, nghe: Kể một câu chuyện tưởng tượng. II. MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA Cấp độ tư duy Thành Vận dụng Mạch Số Nhận biết Thông hiểu Vận dụng Tổng % TT phần cao nội dung câu năng lực Số Số Số Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ Tỉ lệ câu câu câu Năng lực Văn bản I 5 2 15% 2 20% 1 15% 00 50% Đọc đọc hiểu Năng lực Bài làm II 1 25% 10% 5% 10% 50% Viết văn Tỉ lệ % 40% 30% 20% 10% 100% Tổng 6 100% DeThi.edu.vn
- 14 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 9 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) ĐẶC TẢ MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KỲ 2 – LỚP 9 MÔN: NGỮ VĂN T Phầ Mạch Câu Mức độ kiến thức, T n nội dung hỏi kĩ năng cần kiểm tra, đánh giá I Đọc Đọc – hiểu - Nhận biết được một số yếu tố trong truyện trinh thám như: không truyện trinh gian, thời gian, chi tiết, cốt truyện, nhân vật chính. 1,2 thám (ngữ - Xác định được lời người kể chuyện và lời nhân vật; lời đối thoại (Nhận liệu ngoài và lời độc thoại trong văn bản. biết) SGK) - Nhận biết được sự khác nhau giữa cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp trong truyện trinh thám. - Nêu được nội dung bao quát của văn bản. - Phân tích được mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của văn bản, - Phân tích được một số yếu tố trong truyện trinh thám như: không 3,4 gian, thời gian, chi tiết, cốt truyện, nhân vật chính. (Thôn - Phân tích được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà văn bản muốn gửi g đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản. hiểu) - Phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề. - Phân biệt được nghĩa của một số yếu tố Hán Việt dễ gây nhầm lẫn; tác dụng của điển tích, điển cố; tác dụng của các phép biến đổi và mở rộng cấu trúc câu; tác dụng của các kiểu câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp - Rút ra được bài học từ nội dung văn bản. Thể hiện thái độ đồng tình / không đồng tình / đồng tình một phần với những vấn đề đặt 5 ra trong văn bản. (Vận - Nêu được những thay đổi trong suy nghĩ, tình cảm, lối sống và dụng) cách thưởng thức nghệ thuật sau khi đọc hiểu văn bản. - Vận dụng những hiểu biết về lịch sử văn học để đọc hiểu văn bản. II Viết Viết bài văn Viết được một bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết; trình nghị luận bày được giải pháp khả thi và có sức thuyết phục. về một vấn đề cần giải quyết DeThi.edu.vn
- 14 Đề thi giữa học kì 2 môn Ngữ văn 9 có ma trận & đáp án (Kết nối tri thức) ĐỀ THI GIỮA HỌC KÌ II Trường: ..................................................... MÔN: NGỮ VĂN LỚP 9 Họ và tên: ................................................. SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC Lớp: ......................................................... Thời gian làm bài: ... phút (Không kể thời gian giao đề) I. PHẦN ĐỌC HIỂU (5,0 điểm) Đọc văn bản: (Vết tay trên trần là một trong năm cuốn thuộc bộ truyện Thám tử Kỳ Phát gồm chín chương kể về một trong những hành trình phá án của thám tử Kỳ Phát. Đọc được mẩu tin trên báo về một vụ giết người, Kỳ Phát lập tức đến hiện trường để tra án. Một ông già bị đâm chết trong phòng kín, người con chạy đến cứu thì bị xiết cổ gần chết. Trên trần nhà có những vết tay nhỏ. Trong khi đó, lời khai của các nhân chứng lại hoàn toàn khác nhau: con trai nạn nhân nói bị một bóng đen bóp cổ, còn lão bộc lại thoáng thấy một bóng trắng đi vào nhà.) Ông châu Nùng Cao quý đôi lọ cổ có lẽ hơn con ông là Nùng Chí. Một buổi tối mùa đông, ông ngồi uống rượu khề khà ngắm đôi lọ để trước mâm ra dáng đắc ý lắm. Một tên người nhà bưng món ăn lên, khói bay nghi ngút. Nùng Cao vừa kịp nói: - Lâm Nục, mi để đấy rồi hâm lại món gân hươu này đi! Thì ôi thôi, cái ống tay áo chàm của Nục đã vô ý lôi một chiếc lọ lăn xuống đất, vỡ tan ra từng mảnh. Mặt ông châu đương đỏ vì say đã xám lại vì giận. Ông quắc mắt chẳng nói chẳng rằng, rút ngay con dao quai đeo ở đằng cạnh sườn thẳng cánh chém ngay vào cánh tay Lâm Nục. Lưỡi dao sáng loáng vừa hạ, khúc tay từ bàn đến khuỷu đã rơi xuống bên mâm rượu, máu chảy chan hòa Lâm Nục kinh sợ, hoảng chạy mà cũng từ hôm ấy, tên đày tớ Lâm Nục bỏ nhà trốn biệt để lại cho ông châu Nùng Cao mối lo sợ việc thâm thù. Bốn năm qua, Nùng Cao tưởng chừng như chuyện cũ đã phai nhòa, mà kẻ thù có lẽ đã chết hay mất tích ở một phương nào, thì bỗng một tối một người khách lạ đến chơi Hắn cởi chiếc áo ngoài, giơ cho ông châu xem cánh tay cụt và chiếc chiêng đồng đeo ở cạnh sườn mà bảo rằng: - Trước kia ông đang tâm chặt cánh tay tôi Bây giờ tôi không muốn khó nhọc nữa, tôi cần tiền, ông phải đưa ngay cho tôi năm trăm bạc. [ ] Chính cũng cái đêm ấy, Lâm Nục tức giận ra đi, dạy được thêm một con khỉ và một con trăn, cốt để dùng làm lợi khí báo thù. Hắn đã biết phòng ngủ ông châu nên luyện cho con khỉ biết dùng chìa khóa để mở cửa phòng. Gần trống canh ba, hắn cho con trăn lao mình vào cái lỗ hổng áp trần nhà, rồi cho con khỉ leo lên. Một đầu bám vào bờ tường, một đầu quấn vào dây màn ở trong phòng, trăn làm thành một cái cầu để cho khỉ leo qua. Chính trong khi đi trên cái dây lạ lùng ấy, khỉ ta chới với giơ tay lấy thăng bằng, nên thỉnh thoảng lại chạm lên trên trần, in nên những vết tay nhỏ xíu. Khỉ xuống đỉnh màn nhặt chùm chìa khóa loay hoay thế nào đánh rơi ngay xuống đất. Khỉ nhẩy xuống nhặt, vừa gặp ông châu nghe tiếng động rút dao choàng dậy, khỉ hoảng sợ nhẩy chồm lên vai ông châu làm cho ông ngã sấp. Lưỡi dao vô tình cắm ngập vào ngực, đưa ông châu về nơi chín suối. DeThi.edu.vn



