Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Hải Phòng 2025-2026 (Kèm đáp án)

docx 16 trang Thái Tuấn 31/05/2026 360
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Hải Phòng 2025-2026 (Kèm đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docxde_thi_thu_tot_nghiep_thpt_mon_ngu_van_so_gddt_hai_phong_202.docx

Nội dung text: Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Hải Phòng 2025-2026 (Kèm đáp án)

  1. vào bản thân và tương lai tươi sáng, vào quy luật phát triển riêng của mỗi người. b.2. Bàn luận: - Giúp con người kiên trì, không bỏ cuộc trước khó khăn. - Giúp ta vượt qua mặc cảm, áp lực so sánh, không ganh tị với người khác. 0,75 - Là động lực để âm thầm tích lũy, hoàn thiện bản thân, chờ đúng thời cơ. - Tuy nhiên, niềm tin phải đi đôi với hành động, nỗ lực thực tế, tránh ảo tưởng. ... b.3. Bài học: - Cần tin tưởng vào bản thân và hành trình riêng, không nóng vội trước thành công của người khác. 0,25 - Đồng thời, biến niềm tin thành hành động cụ thể, không ngừng học hỏi và hoàn thiện mình mỗi ngày. ... b.4. Sáng tạo - Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục. 0,25 - Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo. Anh/Chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích cảm xúc của nhân vật 2 4,0 trữ tình trong bài thơ Tổ quốc chân trời (Anh Ngọc). Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau: a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về dung lượng, diễn đạt. 1,0 - Vấn đề nghị luận: cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ Tổ quốc chân trời (Anh Ngọc). - Dung lượng: khoảng 600 chữ. b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng 3,0 các kĩ năng nghị luận. b.1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận xã hội - Mở bài: giới thiệu vấn đề nghị luận. 0,5 - Kết bài: khái quát vấn đề nghị luận. b.2. Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm, nhân vật trữ tình. - Giới thiệu tác phẩm Tổ quốc chân trời của nhà thơ Anh Ngọc. 0,5 - Xác định nhân vật trữ tình: nhân vật “anh”. b.3. Phân tích cảm xúc của nhân vật trữ tình - Suy tư, chiêm nghiệm, xúc động, ngợi ca khi ý thức sâu sắc về Tổ quốc: + Nhận thức về Tổ quốc với những điều bình dị, gần gũi (mảnh đất dưới chân anh, vốc nắm đất, hạt cát, chiếc lá...); những điều lớn lao, tươi đẹp (những miền xa vợi, 1,0 biển xanh, chân trời, cánh rừng)... + Xúc động, tự hào về chủ quyền bền vững của Tổ quốc, (Sa Vĩ, cột mốc, tảng đá); truyền thống lịch sử của cha ông (Nam quốc sơn hà, trời tháng chín, nắng Ba Đình,
  2. sáng Tuyên ngôn)... + Trân trọng, ngợi ca thiên nhiên và con người Tổ quốc (cánh buồm, cánh én, thế hệ anh nối nhau mải miết...) - Khát vọng lên đường, cống hiến, dấn thân: + Thôi thúc khám phá mạnh mẽ bởi Tổ quốc không phải điều có sẵn mà phải “đi tìm”. + Khát khao cống hiến không ngừng nghỉ với tinh thần kiên định, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh, gắn liền cuộc đời mình với hành trình vì Tổ quốc, hướng tới lý tưởng cao đẹp (khẩu súng lên đường, bão giông lửa cháy, chân trời...) b.4. Đánh giá - Cảm xúc của nhân vật trữ tình được miêu tả trong sự vận động phong phú: đi từ nhận thức sâu sắc, xúc động, tự hào đến khát vọng dâng hiến, lên đường, nhập cuộc; thể hiện tình yêu Tổ quốc sâu sắc, thiêng liêng. 0,5 - Cảm xúc của nhân vật trữ tình được thể hiện qua thể thơ tự do, hệ thống hình ảnh giàu tính biểu tượng; sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ; giọng điệu linh hoạt, giàu sắc thái, kết hợp giữa chất trữ tình và chất sử thi... b.5. Sáng tạo - Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục. 0,5 - Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo. Tổng điểm 10,0 LỜI GIẢI THAM KHẢO Phần I. Đọc hiểu Câu 1 Theo văn bản, để trồng một khu vườn, chúng ta cần cân nhắc và lựa chọn cẩn thận: - Mình sẽ trồng những loại cây nào. - Sẽ trồng chúng ở đâu trong khu vườn của mình. Có thể trả lời ngắn gọn: Chúng ta cần cân nhắc và lựa chọn cẩn thận loại cây sẽ trồng và vị trí trồng chúng trong khu vườn của mình. Câu 2 Câu văn: “Những bông hoa không ganh tị với nhau chỉ vì đối phương nở rộ.” Một biện pháp tu từ được sử dụng là nhân hóa. Vì: “những bông hoa” được gán cho cảm xúc, hành động của con người là “ganh tị”. Ngoài ra, có thể thấy câu văn còn mang tính ẩn dụ: “những bông hoa” gợi liên tưởng đến con người, mỗi người có thời điểm tỏa sáng riêng. Câu 3 Bằng chứng được sử dụng trong đoạn (3) là hình ảnh: cây bằng lăng nở hoa vào mùa hè, cây nghinh xuân nở hoa vào mùa xuân; cây bám rễ dưới nền đất băng giá và kiên trì chờ mùa xuân đến. Hiệu quả:
  3. Trước hết, bằng chứng này giúp làm rõ luận điểm: mỗi loài cây, cũng như mỗi con người, đều có thời điểm phát triển và tỏa sáng riêng. Cây bằng lăng không cần ganh tị với cây nghinh xuân vì chúng nở hoa vào những mùa khác nhau. Bên cạnh đó, bằng chứng khiến lập luận trở nên cụ thể, sinh động và dễ hiểu hơn. Thay vì nói một cách khô khan rằng “không nên so sánh bản thân với người khác”, tác giả dùng hình ảnh thiên nhiên gần gũi để người đọc dễ cảm nhận. Ngoài ra, bằng chứng còn góp phần gửi gắm thông điệp tích cực: con người cần kiên trì, bền bỉ, tin vào quá trình trưởng thành của bản thân, bởi “thời điểm rực rỡ nhất của mỗi loài cũng sẽ đến”. Câu 4 Mục đích người viết muốn hướng tới qua văn bản là: Khuyên con người không nên nóng vội, ganh tị hay so sánh bản thân với người khác. Mỗi người có một hành trình, một tốc độ phát triển và một thời điểm tỏa sáng riêng. Vì vậy, chúng ta cần kiên nhẫn vun đắp bản thân, giữ niềm tin vào chính mình và bình thản trước ánh nhìn của người khác. Có thể trả lời ngắn gọn: Người viết muốn nhắn nhủ mỗi người hãy kiên trì, không so sánh mình với người khác, tin rằng nếu biết nỗ lực và bền bỉ thì thời điểm rực rỡ của bản thân sẽ đến. Câu 5 Em đồng tình với quan điểm: “Để trở thành những người làm vườn hạnh phúc, chúng ta cần bắt chước thiên nhiên, không để ý đến ánh nhìn của người khác.” Vì trong cuộc sống, nếu luôn nhìn vào thành công của người khác rồi so sánh với bản thân, con người dễ rơi vào mặc cảm, ganh tị hoặc nóng vội. Mỗi người có hoàn cảnh, năng lực, mục tiêu và thời điểm phát triển khác nhau. Có người thành công sớm, có người cần nhiều thời gian hơn để tích lũy kinh nghiệm và trưởng thành. Thiên nhiên cho ta bài học sâu sắc: mỗi loài hoa có mùa nở riêng, không loài nào cần ganh tị với loài nào. Con người cũng vậy, chỉ cần kiên trì vun đắp, sống đúng với giá trị của mình và không ngừng cố gắng, nhất định sẽ có ngày đạt được thành quả xứng đáng. Tuy nhiên, “không để ý đến ánh nhìn của người khác” không có nghĩa là bỏ ngoài tai mọi góp ý. Ta vẫn cần biết lắng nghe những lời khuyên đúng đắn, nhưng không nên sống lệ thuộc vào sự đánh giá hay công nhận của người khác. II. VIẾT Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ Yêu cầu cần đạt: Học sinh cần trình bày được suy nghĩ về ý kiến: “cuối cùng thời điểm rực rỡ nhất của mỗi người cũng sẽ đến”. Có thể triển khai theo các ý: Niềm tin là sức mạnh tinh thần giúp con người không bỏ cuộc trước khó khăn, thất bại. Trong cuộc sống, mỗi người có hoàn cảnh, năng lực và tốc độ trưởng thành khác nhau. Có người thành công sớm, có người phải đi qua nhiều thử thách mới tìm được giá trị của mình. Vì thế, tin rằng “thời điểm rực rỡ nhất của mỗi người cũng sẽ đến” giúp ta biết kiên trì, nhẫn nại và tiếp tục cố gắng. Tuy nhiên, niềm tin ấy không phải là sự chờ đợi thụ động, ảo tưởng, mà phải đi cùng hành động, nỗ lực và sự bền bỉ. Nếu biết gieo hạt,
  4. chăm sóc, vun trồng cho bản thân bằng tri thức, đạo đức, nghị lực thì một ngày nào đó ta sẽ gặt hái được thành quả xứng đáng. Đoạn văn tham khảo: Trong cuộc sống, niềm tin rằng “cuối cùng thời điểm rực rỡ nhất của mỗi người cũng sẽ đến” có sức mạnh vô cùng lớn lao. Mỗi con người sinh ra đều có một hành trình riêng, không ai giống ai về hoàn cảnh, năng lực, cơ hội và thời điểm trưởng thành. Có người thành công từ rất sớm, nhưng cũng có người phải trải qua nhiều gian nan, thất bại mới tìm thấy ánh sáng của đời mình. Bởi vậy, niềm tin giúp ta không nản lòng khi hiện tại còn khó khăn, không mặc cảm khi bản thân chưa được công nhận. Nó tiếp thêm nghị lực để ta kiên trì học tập, rèn luyện, âm thầm tích lũy giá trị cho chính mình. Tuy nhiên, niềm tin không có nghĩa là ngồi chờ may mắn. Muốn có ngày rực rỡ, con người phải biết cố gắng, hành động, sửa chữa sai lầm và không ngừng hoàn thiện bản thân. Một hạt giống muốn nở hoa phải chịu được những ngày vùi sâu trong đất tối. Con người cũng vậy, chỉ cần bền bỉ và tin tưởng, thành quả tốt đẹp nhất định sẽ đến. Câu 2. Viết bài văn khoảng 600 chữ Đề bài: Phân tích cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ Tổ quốc chân trời của Anh Ngọc. Dàn ý chi tiết 1. Mở bài Giới thiệu tác giả Anh Ngọc và bài thơ Tổ quốc chân trời. Nêu vấn đề nghị luận: bài thơ thể hiện những cảm xúc sâu sắc của nhân vật trữ tình trước hình ảnh Tổ quốc: yêu thương, tự hào, xúc động và luôn khao khát lên đường vì đất nước. 2. Thân bài a. Cảm xúc yêu thương, gắn bó khi cảm nhận Tổ quốc từ những điều gần gũi Ngay từ những câu thơ đầu, Tổ quốc hiện ra từ “mảnh đất dưới chân anh”. Đó là hình ảnh rất cụ thể, gần gũi, thân thuộc. Tổ quốc không phải điều gì xa xôi, trừu tượng mà bắt đầu từ nơi con người đang đứng, từ mảnh đất quê hương gắn bó với cuộc đời mình. Nhưng từ điểm khởi đầu gần gũi ấy, Tổ quốc lại mở ra những “miền xa vợi”, những “chân trời”, những “con đường”. Điều đó cho thấy cảm xúc của nhân vật trữ tình luôn hướng về không gian rộng lớn của đất nước. Tình yêu Tổ quốc vì vậy vừa thân thiết, cụ thể, vừa bao la, sâu rộng. b. Cảm xúc xúc động, tự hào trước vẻ đẹp và chủ quyền đất nước Trong bài thơ, nhân vật trữ tình nhớ đến Sa Vĩ, cột mốc, biển, cát trắng, hàng dương. Những hình ảnh ấy gợi không gian biên cương, biển đảo, nơi đánh dấu chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Hình ảnh: “Cái tảng đá đứng ngàn năm thách thức Như bài thơ tứ tuyệt của cha ông ” gợi vẻ đẹp vững chãi, bền bỉ của đất nước qua thời gian. Cảm xúc ở đây là sự xúc động và tự hào trước truyền thống giữ nước của cha ông. Câu thơ nhắc đến Nam quốc sơn hà càng làm nổi bật niềm tự hào dân tộc, bởi đó là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, khẳng định chủ quyền thiêng liêng của đất nước. Hình ảnh “hạt cát” tuy nhỏ bé nhưng lại “lay động tận hồn anh” cho thấy tình yêu Tổ quốc không chỉ đến từ những điều lớn lao mà còn bắt nguồn từ những gì bình dị, nhỏ bé nhất. c. Cảm xúc say mê, ngợi ca vẻ đẹp bao la của Tổ quốc
  5. Nhân vật trữ tình cảm nhận Tổ quốc trong vẻ đẹp hài hòa giữa biển, trời, rừng núi, chân trời và những con đường. Những hình ảnh như “cánh buồm nâu”, “sắc biển xanh”, “chiếc lá bồng bềnh”, “cánh én” tạo nên một bức tranh đất nước vừa thơ mộng, vừa rộng mở. Câu thơ: “Tổ quốc anh nối trời với biển Giữa bao la căng một mảnh đất liền” thể hiện cảm xúc ngỡ ngàng, say mê trước vẻ đẹp rộng lớn của non sông. Tổ quốc hiện lên không chỉ là một vùng đất địa lí mà còn là không gian tinh thần thiêng liêng, nơi kết nối quá khứ, hiện tại và tương lai. d. Cảm xúc trách nhiệm, khát vọng cống hiến của người lính Bài thơ không chỉ có tình yêu và niềm tự hào, mà còn có ý thức trách nhiệm sâu sắc. Nhân vật trữ tình là người đã “cả đời anh với khẩu súng lên đường”, mang trong mình trái tim từng đi qua “bão giông lửa cháy”. Hình ảnh “ba lô đèo tuổi trẻ ở đằng sau”, “tóc đã bạc lúc nào” cho thấy cả tuổi trẻ và cuộc đời người lính đã gắn bó với những cuộc lên đường vì Tổ quốc. Dù thời gian trôi qua, lòng người vẫn “không nguôi những chân mây góc biển”. Đó là tình yêu đất nước bền bỉ, thủy chung, không phai nhạt theo năm tháng. Điệp lại câu thơ: “Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy Nên lòng anh luôn hướng tới những chân trời.” đã khẳng định cảm xúc chủ đạo của bài thơ: Tổ quốc là hành trình khám phá, là lí tưởng, là tiếng gọi khiến con người không ngừng lên đường, dấn thân và cống hiến. e. Nghệ thuật Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, giọng thơ tha thiết, giàu suy tưởng. Hình ảnh thơ giàu sức gợi, kết hợp giữa hình ảnh thực và biểu tượng. Điệp ngữ “Tổ quốc” làm nổi bật cảm xúc thiêng liêng, sâu nặng. Các biện pháp so sánh, liên tưởng giúp hình tượng Tổ quốc hiện lên vừa cụ thể, vừa lớn lao. 3. Kết bài Khẳng định bài thơ thể hiện tình yêu Tổ quốc sâu sắc của nhân vật trữ tình. Qua đó, tác phẩm khơi dậy trong người đọc niềm tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm và khát vọng cống hiến cho đất nước. Bài văn tham khảo Bài thơ Tổ quốc chân trời của Anh Ngọc là tiếng lòng tha thiết của một con người suốt đời gắn bó với đất nước. Qua bài thơ, nhân vật trữ tình bộc lộ tình yêu Tổ quốc sâu nặng, niềm tự hào trước vẻ đẹp và chủ quyền thiêng liêng của non sông, đồng thời thể hiện ý thức trách nhiệm và khát vọng không ngừng lên đường vì Tổ quốc. Trước hết, nhân vật trữ tình cảm nhận Tổ quốc từ những điều gần gũi, thân thuộc nhất. Tổ quốc bắt đầu từ “mảnh đất dưới chân anh”. Đó không phải là một khái niệm xa xôi mà là nơi con người đang sống, đang đứng, đang gắn bó. Từ mảnh đất cụ thể ấy, Tổ quốc mở ra những “miền xa vợi”, những “chân trời”, những “con đường”. Vì thế, trong cảm nhận của nhân vật trữ tình, Tổ quốc vừa gần gũi, thân thương, vừa bao la, rộng lớn. Câu thơ “Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy” cho thấy tình yêu đất nước không chỉ có sẵn trong cảm xúc mà còn là kết quả của hành trình trải nghiệm, khám phá và thấu hiểu. Cảm xúc nổi bật trong bài thơ còn là niềm xúc động, tự hào trước vẻ đẹp và chủ quyền thiêng liêng của đất nước. Hình ảnh “cát trắng hàng dương”, “Chiều Sa Vĩ”, “cột mốc” gợi đến vùng đất nơi địa đầu Tổ
  6. quốc. Ở đó, từng tảng đá, từng hạt cát đều mang ý nghĩa thiêng liêng. Hình ảnh “cái tảng đá đứng ngàn năm thách thức” gợi vẻ đẹp vững chãi, bền bỉ của non sông qua bao thử thách. Khi nhắc đến “Nam quốc sơn hà”, nhà thơ gợi lại truyền thống đấu tranh giữ nước và ý thức chủ quyền từ ngàn xưa của dân tộc. Đặc biệt, hình ảnh “hạt cát nào lay động tận hồn anh” cho thấy tình yêu Tổ quốc có thể được đánh thức từ những điều nhỏ bé nhất. Một hạt cát nơi biên cương cũng đủ làm rung động tâm hồn người yêu nước. Không chỉ tự hào, nhân vật trữ tình còn say mê trước vẻ đẹp bao la của Tổ quốc. Đất nước hiện lên qua biển xanh, cánh buồm nâu, cánh én, những cánh rừng, những con đường và những chân trời rộng mở. Các hình ảnh thơ vừa cụ thể vừa giàu chất biểu tượng, làm hiện lên một Tổ quốc tươi đẹp, rộng dài, luôn mời gọi con người khám phá. Câu thơ “Tổ quốc anh nối trời với biển / Giữa bao la căng một mảnh đất liền” đã gợi ra dáng hình đất nước trong không gian lớn lao của trời biển. Đó là cảm xúc ngợi ca, say đắm trước vẻ đẹp hùng vĩ mà thân thương của quê hương. Bài thơ còn thể hiện sâu sắc ý thức trách nhiệm và khát vọng cống hiến của nhân vật trữ tình. Hình ảnh “ba lô đèo tuổi trẻ ở đằng sau” và “tóc đã bạc lúc nào” cho thấy cả tuổi trẻ, cả cuộc đời người lính đã gắn với những hành trình vì Tổ quốc. Dẫu năm tháng trôi qua, lòng người vẫn “không nguôi những chân mây góc biển”. Nhân vật trữ tình không dừng lại trong sự chiêm ngưỡng mà luôn hướng tới hành động, lên đường, dấn thân. Câu thơ “Cả đời anh với khẩu súng lên đường / Trái tim đập trong bão giông lửa cháy” thể hiện vẻ đẹp của người lính: sẵn sàng chiến đấu, hi sinh để bảo vệ đất nước. Đến cuối bài, điệp lại ý thơ “Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy” càng khẳng định Tổ quốc là lí tưởng sống, là tiếng gọi thiêng liêng khiến con người không ngừng đi tới. Thành công của bài thơ còn đến từ thể thơ tự do, giọng thơ tha thiết, giàu suy tưởng. Hệ thống hình ảnh thơ phong phú, kết hợp giữa không gian biển, trời, rừng núi, biên cương đã làm cho hình tượng Tổ quốc hiện lên vừa cụ thể, vừa thiêng liêng. Điệp ngữ “Tổ quốc” được lặp lại nhiều lần, góp phần nhấn mạnh tình cảm sâu nặng của nhân vật trữ tình đối với đất nước. Tóm lại, Tổ quốc chân trời là bài thơ giàu cảm xúc về tình yêu đất nước. Qua cảm xúc của nhân vật trữ tình, người đọc cảm nhận được một Tổ quốc gần gũi mà lớn lao, bình dị mà thiêng liêng. Bài thơ khơi dậy trong mỗi người niềm tự hào dân tộc, tình yêu quê hương và ý thức sống có trách nhiệm với đất nước.