Trọn bộ thi thử TN THPT Ngữ văn SGD Phú Thọ 2023-2026 (Kèm đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Trọn bộ thi thử TN THPT Ngữ văn SGD Phú Thọ 2023-2026 (Kèm đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
tron_bo_thi_thu_tn_thpt_ngu_van_sgd_phu_tho_2023_2026_kem_da.docx
Nội dung text: Trọn bộ thi thử TN THPT Ngữ văn SGD Phú Thọ 2023-2026 (Kèm đáp án)
- a) Khái quát nội dung bài thơ Bài thơ suy ngẫm về “cái mới” trong dòng chảy của sự sống, thiên nhiên và tình yêu. Theo Tố Hữu, cái mới không hoàn toàn tách rời cái cũ mà nảy sinh từ sự vận động tuần hoàn, tái sinh và tiếp nối bền bỉ của đời sống. b) Phân tích nội dung Luận điểm 1. Cái mới được nhìn nhận trong quy luật vận động vô tận của cuộc đời • Mở đầu bằng câu hỏi: “Thế nào là mới, hỡi em?” • Nhà thơ đặt ra vấn đề một cách tự nhiên, gần gũi mà giàu triết lí. • Các hình ảnh: ngày đêm, đất trời, dòng đời cho thấy cuộc sống luôn vận động không ngừng. • Cái mới hiện ra như một thuộc tính của sự sống: đời sống luôn đổi thay, luôn tiếp diễn. Luận điểm 2. Cái mới nảy sinh từ sự tiếp nối, hồi sinh của thiên nhiên • Các hình ảnh: mầm non nảy lá, nên đồng tốt tươi; quả rơi; hạt đâm chồi lên xanh; cây lại mọc ra cành. • Thiên nhiên vận động theo chu trình sinh sôi, tái tạo. • Qua đó, nhà thơ khẳng định: cái mới không phải phủ nhận sạch trơn cái cũ, mà là sự hồi sinh từ nền tảng cũ, là sức sống bền bỉ vượt qua giông bão. Luận điểm 3. Cái mới còn là sự tươi nguyên, bền vững của tình yêu • Từ thiên nhiên, bài thơ chuyển sang tình yêu. • Dù trải qua xa cách, biến thiên, tình yêu vẫn “mới”, vẫn nồng nàn như buổi đầu. • Những câu thơ cuối: - “Tưởng như mới nở đóa hồng” - “Tình ta vẫn mới, như vừa bén duyên!” • Quan niệm của Tố Hữu: cái mới có thể nằm ngay trong sự thủy chung, bền chặt, trong giá trị lâu bền của tình cảm con người. c) Giá trị nghệ thuật • Thể thơ lục bát ngọt ngào, giàu nhạc điệu. • Giọng điệu tâm tình, đằm thắm, sâu lắng, giàu tính chiêm nghiệm. • Hình ảnh thơ gần gũi, giàu sức gợi: thiên nhiên, mầm cây, hạt giống, mùa xuân, đóa hồng... • Sử dụng hiệu quả: - câu hỏi tu từ: gợi suy ngẫm, - điệp từ, điệp cấu trúc: nhấn mạnh ý thơ, - ẩn dụ, biểu tượng: làm sâu sắc tư tưởng. • Kết hợp hài hòa giữa trữ tình và triết lí. d) Liên hệ với ngữ liệu của Bằng Việt: sự khác biệt trong quan niệm về “cái mới” Điểm gặp gỡ • Cả hai nhà thơ đều đề cao “cái mới”. • Đều xem đổi mới là biểu hiện của sức sống, của khát vọng sống tích cực. Điểm khác biệt • Tố Hữu: Nhìn cái mới trong sự tiếp nối, kế thừa, tuần hoàn và hồi sinh của sự sống. Cái mới có thể nảy nở từ cái cũ, từ sự thủy chung, bền vững.
- • Bằng Việt: Nhìn cái mới như một đòi hỏi phải đổi thay mỗi ngày, chống lại sự trì trệ, bằng phẳng, ươn lười. Cái mới gắn với tinh thần hành động, bứt phá, không chấp nhận sự cũ kĩ trong nếp nghĩ và lối sống. Đánh giá • Quan niệm của Tố Hữu thiên về chiêm nghiệm, bền sâu, nhân văn. • Quan niệm của Bằng Việt thiên về thức tỉnh, thôi thúc hành động, giàu tinh thần đổi mới. • Hai quan niệm bổ sung cho nhau, giúp con người hiểu đúng hơn về ý nghĩa của cái mới trong đời sống. 3. Kết bài • Khẳng định bài thơ Mới là một thi phẩm giàu chất triết lí và cảm xúc. • Tố Hữu đã đem đến một cách nhìn đẹp đẽ, sâu sắc về cái mới: cái mới không chỉ là thay đổi mà còn là sự sống luôn tái sinh, tình yêu luôn tươi trẻ. • Liên hệ với Bằng Việt càng giúp thấy rõ hơn vẻ phong phú của tư duy thơ ca về “cái mới”. Bài làm mẫu ngắn gọn cho Câu 2 Bài thơ Mới của Tố Hữu là một thi phẩm giàu chất suy tư, thể hiện quan niệm sâu sắc của nhà thơ về cái mới trong cuộc đời. Mở đầu bài thơ, tác giả đặt ra câu hỏi: “Thế nào là mới, hỡi em?”. Câu hỏi ấy không chỉ để hỏi mà còn để gợi suy ngẫm. Theo mạch cảm xúc của bài thơ, cái mới trước hết được nhìn nhận trong quy luật vận động vô tận của cuộc sống. Ngày đêm, đất trời, dòng đời luôn luân chuyển, tiếp nối, vì thế cuộc sống không ngừng đổi thay. Từ quy luật chung ấy, Tố Hữu hướng ngòi bút vào thiên nhiên. Những hình ảnh như mầm non nảy lá, hạt đâm chồi lên xanh, cây lại mọc ra cành cho thấy sức sống mãnh liệt và khả năng tái sinh bền bỉ của tạo vật. Dù trải qua giông bão, quả rơi, sự sống vẫn tiếp tục đâm chồi nảy lộc. Qua đó, nhà thơ gửi gắm một quan niệm rất đẹp: cái mới không nhất thiết phải đoạn tuyệt với cái cũ, mà có thể được sinh thành từ chính sự tiếp nối, hồi sinh và phát triển. Không chỉ dừng ở thiên nhiên, bài thơ còn mở rộng suy tưởng đến tình yêu. Tình yêu chân thành, bền vững dù đi qua bao gió mưa vẫn giữ được vẻ tươi mới như thuở ban đầu. Câu thơ “Tình ta vẫn mới, như vừa bén duyên!” là một phát hiện tinh tế và giàu cảm xúc. Với Tố Hữu, cái mới có thể hiện diện ngay trong sự thủy chung, bền lâu của tình cảm con người. Bài thơ thành công ở thể lục bát mềm mại, giọng điệu tâm tình sâu lắng, hình ảnh gần gũi mà giàu sức gợi. Chất trữ tình hòa quyện cùng chất triết lí giúp bài thơ vừa ngọt ngào vừa sâu sắc. So với đoạn thơ của Bằng Việt, có thể thấy cả hai nhà thơ đều trân trọng cái mới, nhưng quan niệm không hoàn toàn giống nhau. Nếu Tố Hữu nhấn mạnh cái mới trong sự tiếp nối, hồi sinh và bền vững, thì Bằng Việt lại nhìn cái mới như một yêu cầu đổi thay mạnh mẽ từng ngày, chống lại sự trì trệ, cũ mòn. Một bên thiên về chiều sâu chiêm nghiệm, một bên thiên về tinh thần thức tỉnh và hành động. Chính điều đó làm nên sự phong phú trong cách nhìn của thơ ca về cuộc sống.
- ĐỀ SỐ 3 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2025 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MÔN: NGỮ VĂN PHÚ THỌ Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) PHẦN I: ĐỌC HIỂU Đọc bài thơ sau: TẠ (1) Ngày ra trận Con tạ bà mụ vườn Tóc tôi còn để chỏm Tạ lưỡi liềm cùn cắt rốn Nay trở về Đã đỡ con ra đời Đầu đã hoa râm Vẹn toàn, sung sức Sau cuộc trường chinh ba mươi năm Con tạ Quỳ rạp trán xuống đất làng Manh chiếu rách con nằm Con tạ Con tạ Con tạ đất làng quê Bát cơm nghèo mẹ con ăn Thấm đẫm máu bao anh hùng đã khuất Con tạ Không ngọn cỏ nào không long lanh nước mắt Câu dân ca mẹ con hát . Không lá cây nào không mặn chát gian lao! Tất cả thành sữa ngọt Nuôi con ngày trứng nước (2) Con tạ ơn cha Để hôm nay con được sống Đã yêu đằm thắm mẹ con Được lớn khôn Con tạ ơn mẹ Được chiến đấu hết mình Đã sinh con đúng lúc Vì tự do của Tổ Quốc Con tạ trời Được ca hát hết mình Tạ đất Tổ Quốc thành thơ! Đã mưa thuận gió hoà đêm mẹ lên giường sinh (Phùng Quán – Tạp chí Sông Hương, số 28, T.11&12-1987) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu nhận biết thể thơ của văn bản. Câu 2. Xác định biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong đoạn (1) của văn bản. Câu 3. Nêu tác dụng của việc đưa yếu tố tự sự vào thơ trữ tình trong văn bản trên. Câu 4. Nhận xét hiệu quả việc sử dụng dấu ba chấm (...) trong văn bản. Câu 5. Từ đoạn thơ (2) trong văn bản phần Đọc hiểu, anh/chị suy nghĩ gì về trách nhiệm của bản thân đối với quê hương, nguồn cội (trình bày khoảng 5-7 dòng). II. PHẦN VIẾT Câu 1 Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình được thể hiện trong văn bản ở phần Đọc hiểu. Câu 2 Thành công không đến từ việc thay đổi thế giới, mà là thay đổi bản thân. (Jim Rohn) Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề: Thay đổi bản thân - thay đổi thế giới.
- HƯỚNG DẪN GIẢI PHẦN I: ĐỌC HIỂU Câu 1: Thể thơ tự do, các câu có số tự không đều nhau, nhịp điệu linh hoạt. Câu 2: Biện pháp nhân hóa: (ngọn cỏ) long lanh nước mắt; (lá cây) mặn chát gian lao! Câu 3: - Việc đưa yếu tố tự sự vào thơ trữ tình trong bài "Ngày ra trận" tạo ra một sức mạnh cảm xúc sâu sắc, làm cho thơ trở nên gần gũi và giàu sức gợi. - Các yếu tố tự sự trong bài thơ thể hiện câu chuyện về một người lính trở về từ cuộc chiến, nhưng không chỉ kể lại những biến cố lịch sử mà còn làm sống dậy những cảm xúc cá nhân, những kỷ niệm sâu sắc về gia đình, quê hương và cuộc sống. - Những đoạn tự sự giúp làm rõ quá trình trưởng thành của nhân vật "Con", từ lúc sinh ra trong gian khó đến khi trở thành người chiến sĩ dũng cảm, mang trong mình lòng biết ơn sâu sắc. Câu 4: - Dấu ba chấm làm giảm nhịp điệu câu văn, nhấn mạnh sự biết ơn của nhân vật trữ tình. Câu 5: Gợi ý: Trách nhiệm của HS đối với quê hương, nguồn cội: - Nỗ lực học tập, trau dồi bản thân, rèn luyện đạo đức, sống có ước mơ, hoài bão, mục tiêu và cố gắng vươn lên. - Tích cực tham gia vào các hoạt động công ích, các hoạt động tình nguyện, sẵn sàng chia sẻ, giúp đỡ người khác. - Sống có tinh thần tập thể, đi theo cái hay, cái đúng, bỏ qua cái tôi vì lợi ích chung của cộng đồng. - II. PHẦN VIẾT Câu 1: Gợi ý: 1. Mở đoạn: Giới thiệu chung. 2. Thân đoạn: - Tâm trạng của nhân vật trong bài thơ chủ yếu là sự biết ơn, tưởng nhớ và trân trọng đối với những gì đã qua trong cuộc đời mình, từ gia đình, quê hương đến những hy sinh trong chiến tranh. + Tưởng nhớ về thời thơ ấu: Từ hình ảnh "Tóc tôi còn để chỏm" đến "Đầu đã hoa râm", nhân vật cảm nhận sự thay đổi của bản thân qua thời gian, từ một đứa trẻ thơ ngây đến một người lính già trở về sau chiến tranh. + Biết ơn quê hương: Nhân vật bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với gia đình, quê hương, và những điều giản dị trong cuộc sống như "manh chiếu rách", "bát cơm nghèo", "câu dân ca mẹ con hát". Những hình ảnh này thể hiện sự trân trọng đối với những giá trị nhỏ bé, bình dị nhưng vô cùng quý giá. + Tâm trạng đau đớn khi nghĩ về những mất mát, hy sinh của các anh hùng đã khuất. Tâm trạng này phản ánh sự gánh nặng của một người lính về những gì đã qua trong cuộc chiến. + Nhân vật tự hào khi nhắc về hành trình chiến đấu của mình: "Con được sống / Được lớn khôn / Được chiến đấu hết mình / Vì tự do của Tổ Quốc". Đây là một sự khẳng định về lòng yêu nước và khát vọng bảo vệ tự do cho đất nước.
- 3. Kết đoạn: Bài thơ là sự kết hợp giữa tình yêu quê hương, gia đình và lý tưởng chiến đấu, thể hiện lòng tri ân và sự tôn vinh những giá trị cao đẹp trong cuộc sống, qua đó góp phần làm sâu sắc thêm tư tưởng yêu nước và lòng tự hào dân tộc. Câu 2: Có thể triển khai theo hướng: 1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận. 2. Thân bài: * Giải thích: - Thay đổi bản thân: Là sự cải thiện về tư duy, thái độ, hành động và các kỹ năng cá nhân. Đây là quá trình tự nhận thức, tự hoàn thiện bản thân thông qua học hỏi, rèn luyện và phát triển bản thân. - Thay đổi thế giới: Là việc tạo ra sự khác biệt tích cực trong cộng đồng, xã hội, hay thậm chí toàn cầu thông qua những hành động có ảnh hưởng. * Vì sao thay đổi bản thân lại thay đổi thế giới? - Sự thay đổi của một cá nhân sẽ ảnh hưởng đến những người xung quanh. Khi bản thân mỗi người trở nên tốt hơn, họ sẽ truyền cảm hứng và ảnh hưởng tích cực đến xã hội. - Khi thay đổi tư duy, thái độ, hành vi, con người sẽ có cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề tốt hơn, từ đó có thể đóng góp hiệu quả hơn cho cộng đồng và xã hội. - Thay đổi bản thân để đối mặt với thử thách và cơ hội: Mỗi người cần thay đổi những thói quen xấu, rèn luyện sự kiên nhẫn, học hỏi thêm kiến thức mới và phát triển kỹ năng mềm. Những thay đổi này sẽ giúp họ đối mặt với thử thách trong cuộc sống và công việc. - Khi một cá nhân thay đổi, họ có thể tác động đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp. Một cá nhân tốt, làm việc với tinh thần trách nhiệm và đạo đức sẽ ảnh hưởng đến môi trường làm việc, gia đình, từ đó tạo ra một cộng đồng tốt đẹp hơn. - Thay đổi bản thân không phải là một quá trình dễ dàng, nó đòi hỏi sự kiên trì, nỗ lực và thời gian. Cũng cần phải vượt qua sự phản đối từ xã hội hoặc những yếu tố ngoại cảnh. - Thay đổi bản thân phải đi kèm với một mục tiêu rõ ràng và kế hoạch cụ thể. Nếu không, sự thay đổi có thể trở nên mơ hồ và không đạt hiệu quả. 3. Kết bài: - Thay đổi bản thân chính là bước đầu tiên để thay đổi thế giới. Nếu mỗi người chúng ta đều có thể thay đổi bản thân theo chiều hướng tích cực, xã hội và thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn. - Mỗi người cần nhận thức được rằng sự thay đổi bắt đầu từ chính bản thân mình. Hãy nỗ lực không ngừng, học hỏi và rèn luyện để không chỉ cải thiện cuộc sống cá nhân mà còn góp phần tạo ra một cộng đồng và thế giới văn minh, phát triển.
- ĐỀ SỐ 4 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2024 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MÔN: NGỮ VĂN PHÚ THỌ Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU Đọc văn bản: “Cuộc sống là một trò chơi mà bạn phải chọn lựa, hoặc trở thành người chơi, hoặc chỉ là người ngoài cuộc. Nếu bạn tham gia vào trò chơi và cống hiến hết mình cho nó thì bạn sẽ tìm thấy được niềm vui, và cuộc sống của bạn sẽ trở nên ý nghĩa hơn rất nhiều. Ngược lại, nếu chọn làm kẻ ngoài cuộc, bạn sẽ để cuộc đời mình trôi qua trong tẻ nhạt, buồn chán. Thật đáng buồn là rất nhiều người trong chúng ta chọn lựa cách sống thứ hai vì không đủ can đảm để sống một cuộc đời đích thực. Những kẻ ngoài cuộc thường chẳng làm nên trò trống gì. Họ không thể chăm lo cho bản thân cũng chẳng thể giúp ích được gì cho những người xung quanh. Trong khi người khác bận rộn ở sở làm hay trong nhà máy thì họ lại sống như một loài tầm gửi, chỉ biết trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác. “Sống” và “tồn tại” là hai khái niệm thường xuyên được con người nhắc đến trong thế giới hiện đại. Bạn chỉ thật sự “sống” khi dũng cảm dấn thân và cống hiến hết mình cho những mục đích cao cả. Nếu không, cuộc đời bạn chỉ còn là sự “tồn tại” mà thôi.’ (Trích Không gì là không thể, George Matthew Adams, biên dịch: Thu Hằng, NXB Trẻ, 2008, tr.50) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. Câu 2. Tác giả bài viết định nghĩa như thế nào về cuộc sống? Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp tu từ trong câu: “Trong khi người khác bận rộn ở sở làm hay trong nhà máy thì họ lại sống như một loài tầm gửi, chỉ biết trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác”. Câu 4. Anh/Chị có đồng tình với quan niệm về “sống” và “tồn tại” của tác giả hay không? Vì sao? II. LÀM VĂN Câu 1. Từ nội dung đoạn trích của phần đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) suy nghĩ về ý kiến: Đừng bao giờ cho phép mình trở thành một kẻ ngoài cuộc trong cuộc sống. Câu 2. Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa...” mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bởi sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
- Đất Nước có từ ngày đó... (Trích Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ Văn 12 tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2006, tr.118) Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên. Từ đó, nhận xét về việc vận dụng chất liệu dân gian trong đoạn thơ của tác giả.
- HƯỚNG DẪN GIẢI I. ĐỌC HIỂU Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận. Câu 2. Tác giả định nghĩa về cuộc sống: Cuộc sống là một trò chơi mà bạn phải chọn lựa, hoặc trở thành người chơi, hoặc chỉ là người ngoài cuộc. Câu 3. Biện pháp tu từ: Tương phản. Tác dụng: Chỉ rõ, nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai lối sống. Câu 4. Học sinh trình bày theo ý hiểu, có lý giải. Gợi ý: - Đồng ý với nhận định của tác giả. - Lý giải: + Để có thể sống một cách đúng nghĩa, con người phải có nhiệt huyết, đam mê, có sự cố gắng, có sự kiên trì làm việc, cống hiến. + Nếu con người chỉ đứng ở ngoài cuộc sống, chờ đợi người khác thì con người sống không khác loài cây tầm gửi, hay nói cách khác sống ở đây chỉ đơn giản là để tồn tại. II. LÀM VĂN Câu 1: Phương pháp: Yêu cầu hình thức: - Viết đúng một đoạn văn nghị luận xã hội theo cấu trúc. - Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. Yêu cầu nội dung: * Nêu vấn đề: Đừng bao giờ cho phép mình trở thành một kẻ ngoài cuộc trong cuộc sống. * Bàn luận: Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách khác nhau miễn là hợp lí, khoa học, thuyết phục. Có thể theo hướng sau: - Kẻ đứng ngoài cuộc sống: là người không có trách nhiệm với cuộc sống của chính mình, luôn sống thờ ơ, không cố gắng nỗ lực vì cuộc sống của chính mình. - Không nên đứng ngoài cuộc sống bởi: + Con người cần sống có trách nhiệm với chính cuộc sống của mình. + Không đứng ngoài cuộc sống giúp người ta có động lực, có cố gắng để hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn. + Không đứng ngoài cuộc sống giúp con người nắm bắt được cuộc sống của chính mình. + Không đứng ngoài cuốc sống là cách giúp con người sống có ý nghĩa hơn. .. * Kết đoạn: Bài học nhận thức và hành động. - Liên hệ bản thân.
- Học sinh chú ý đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho mỗi luận điểm của mình. Câu 2: Yêu cầu hình thức: - Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng làm nghị luận văn học để tạo lập văn bản. - Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp. Yêu cầu nội dung: I. Giới thiệu chung - Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Phong cách nghệ thuật đậm chất triết lí, giàu chất suy tưởng. - Đoạn trích Đất Nước nằm trong tập trường ca Mặt đường khát vọng của được viết trong thời kì chống Mĩ. Đoạn trích là cách định nghĩa mới mẻ về đất nước với tư tưởng bao trùm “Đất nước của nhân dân”. - Khái quát vấn đề: Cảm nhận về đoạn thơ trên. Từ đó, nhận xét về cách sử dụng chất liệu văn hoá dân gian của nhà thơ. II. Phân tích 1. Phân tích đoạn trích: * Vị trí đoạn trích * Cội nguồn của đất nước - Tác giả khẳng định một điều tất yếu: “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”, điều này thôi thúc mỗi con người muốn tìm đến nguồn cội đất nước. + “Ta”: người đại diện nhân xưng cho cả một thế hệ nói lên ý thức tìm hiểu cội nguồn. + Thôi thúc con người tìm hiểu cội nguồn của đất nước - Nguyễn Khoa Điềm đã tìm hiểu và lý giải cội nguồn của đất nước: Đất nước bắt đầu bằng lời kể của mẹ, miếng trầu bà ăn, từ phong tục tập quán quen thuộc, từ tình nghĩa thủy chung, - Đất nước được cảm nhận bằng chiều dài của thời gian, chiều rộng của không gian và chiều sâu của lịch sử văn hóa dân tộc. * Sự cảm nhận đất nước ở phương diện lịch sử, văn hóa - Đất nước gắn liền với nền văn hóa lâu đời của dân tộc: + Câu chuyện cổ tích, ca dao + Phong tục của người Việt: ăn trầu, bới tóc - Đất nước lớn lên từ trong đau thương, vất vả cùng với cuộc trường chinh của con người: + Cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, gắn liền với hình ảnh cây tre – biểu tượng cho sức sống bất diệt của dân tộc. - Gắn với nền văn minh lúa nước, lao động vất vả - Đất nước gắn liền với những con người sống ân tình, thủy chung. * Nghệ thuật: - Sử dụng thành công chất liệu văn học dân gian - Giọng thơ tâm tình, nhẹ nhàng => Đoạn thơ mở đầu giản dị, thân thiết như câu chuyện kể, giọng thơ thâm trầm, trang nghiêm làm cho suy tư về cội nguồn đất nước giàu chất triết luận mà vẫn tha thiết, trữ tình. Lý giải một khái niệm lớn lao
- bằng những hình ảnh bình dị, quen thuộc để khẳng định: Đất nước đã có từ rất lâu đời, sự hình thành phát triển của đất nước giắn với những gì nhỏ bé, bình dị, thân thuộc trong mỗi đời sống con người Việt Nam. 2. Chất liệu văn hóa văn học dân gian: - Khi lí giải đất nước có từ đâu, tác giả đã lí giải bằng những gì gần gũi, thân thuộc trong mỗi gia đình chúng ta (với những câu chuyện “ngày xửa ngày xưa”, với miếng trầu mang đậm nét văn hóa dân tộc, với truyền thuyết sâu thẳm trong tâm hồn Việt “Thánh Gióng”). - Đất nước được cảm nhận trong chiều sâu tâm hồn nhân dân và văn hóa, lịch sử: Đất nước là phong tục “búi tóc sau đầu”, là vẻ đẹp tâm hồn truyền thống của dân tộc “gừng cay muối mặn”. - Đất nước gắn liền với nền văn minh lúa nước lâu đời “hạt gạo phải một nắng hai sương say, giã, giần, sàng” - Đất nước còn được cảm nhận bằng những phong tục dân dã, gần gũi của dân tộc bằng những cái tên nôm na, giản dị “cái kèo, cái cột thành tên”. - Chất liệu Văn học dân gian được sử dụng một cách đa dạng: truyện cổ, ca dao, tục ngữ, thành ngữ, lối sống... - Chất liệu Văn học dân gian được sử dụng một cách sáng tạo: Tác giả thường gợi ra một vài chữ trong ca dao, hay một hình ảnh, một chi tiết trong truyền thuyết... mà người đọc vẫn cảm nhận đầy đủ ý nghĩa.



