Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở Đồng Nai 2025-2026 (Có đáp án)

docx 20 trang Minhquan88 31/05/2026 240
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở Đồng Nai 2025-2026 (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docxde_thi_thu_thpt_quoc_gia_mon_ngu_van_so_dong_nai_2025_2026_c.docx

Nội dung text: Đề thi thử THPT Quốc gia môn Ngữ Văn Sở Đồng Nai 2025-2026 (Có đáp án)

  1. Câu 1. Viết đoạn văn khoảng 200 chữ Đề bài: Từ nội dung ở phần Đọc hiểu, viết đoạn văn nghị luận trình bày suy nghĩ về những chuẩn bị cần thiết của người trẻ để thích ứng với sự thay đổi của quê hương trong bối cảnh phát triển hiện nay. Gợi ý triển khai Người trẻ cần chuẩn bị: • Tri thức, năng lực học tập suốt đời để theo kịp sự phát triển của quê hương. • Kĩ năng công nghệ, ngoại ngữ, giao tiếp, hợp tác để thích ứng với môi trường hiện đại. • Bản lĩnh, tư duy sáng tạo, tinh thần chủ động trước những thay đổi nhanh chóng. • Ý thức trách nhiệm với quê hương, biết góp sức xây dựng nơi mình sống. • Tình yêu truyền thống, bản sắc văn hóa, lịch sử để phát triển nhưng không đánh mất cội nguồn. Đoạn văn tham khảo Trong bối cảnh quê hương đang từng ngày đổi mới và phát triển, người trẻ cần có những chuẩn bị cần thiết để thích ứng và đóng góp tích cực cho cộng đồng. Trước hết, mỗi người phải không ngừng học tập, tích lũy tri thức, rèn luyện năng lực chuyên môn để có thể đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại. Bên cạnh đó, người trẻ cần trang bị các kĩ năng quan trọng như sử dụng công nghệ, ngoại ngữ, giao tiếp, hợp tác và giải quyết vấn đề. Đây là những hành trang giúp họ tự tin hội nhập với sự phát triển chung. Không chỉ vậy, người trẻ còn cần có bản lĩnh, tư duy sáng tạo và tinh thần chủ động để không bị động trước những đổi thay nhanh chóng của cuộc sống. Đặc biệt, trong quá trình thích ứng với cái mới, mỗi người không được quên tình yêu quê hương, niềm tự hào về lịch sử, văn hóa và truyền thống dân tộc. Biết trân trọng quá khứ, sống có trách nhiệm trong hiện tại và nuôi dưỡng khát vọng tương lai, người trẻ sẽ trở thành lực lượng quan trọng góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh. Câu 2. Viết bài văn khoảng 600 chữ Đề bài: So sánh, đánh giá hình tượng Tổ quốc được thể hiện qua hai đoạn thơ của Nguyễn Sỹ Đại và Nguyễn Việt Chiến. Dàn ý chi tiết 1. Mở bài Giới thiệu vấn đề nghị luận: hình tượng Tổ quốc trong thơ ca Việt Nam luôn là đề tài thiêng liêng, sâu sắc. Qua hai đoạn thơ của Nguyễn Sỹ Đại và Nguyễn Việt Chiến, hình tượng Tổ quốc hiện lên gần gũi, thân thương nhưng cũng lớn lao, thiêng liêng. 2. Thân bài a. Hình tượng Tổ quốc trong đoạn thơ của Nguyễn Sỹ Đại Trong đoạn thơ của Nguyễn Sỹ Đại, Tổ quốc hiện lên từ những gì gần gũi nhất với đời sống con người: “Tổ quốc là khi mẹ sinh con Có cái mũi dọc dừa, màu da vàng như nắng” Tổ quốc bắt đầu từ sự sinh thành, từ hình hài con người Việt Nam với màu da, dáng vóc, nguồn cội. Tổ quốc không xa vời mà hiện diện trong gia đình, trong người mẹ, trong bếp lửa, trong tình làng nghĩa xóm: “Đêm trở dạ có bà con chòm xóm Bếp lửa hồng ấm suốt cả đời ta” Hình ảnh ấy gợi một Tổ quốc ấm áp, nghĩa tình, được tạo nên từ tình mẫu tử, tình xóm làng và truyền thống cộng đồng.
  2. Tổ quốc còn được nhà thơ cảm nhận qua chiều sâu văn hóa dân gian: “Hồn trẻ Việt tự mang hồn Thánh Gióng Nết phúc hậu dịu dàng cô Tấm” Thánh Gióng biểu tượng cho tinh thần yêu nước, sức mạnh chống giặc ngoại xâm; cô Tấm biểu tượng cho vẻ đẹp hiền lành, nhân hậu của con người Việt Nam. Qua đó, Tổ quốc được nhìn như sự kết tinh của truyền thống anh hùng và phẩm chất nhân văn. Đặc biệt, Tổ quốc còn là tiếng Việt, là văn chương, là ca dao, Truyện Kiều: “Là ngọt ngào tiếng Việt môi son Ôi tiếng Việt bao tháng trầm xa xót Cánh cò bay là vào câu hát Chạm trang Kiều, tiếng Việt hóa lung linh” Tiếng Việt trở thành linh hồn của Tổ quốc, là nơi lưu giữ lịch sử, tâm hồn, nỗi đau và vẻ đẹp văn hóa dân tộc. b. Hình tượng Tổ quốc trong đoạn thơ của Nguyễn Việt Chiến Trong đoạn thơ của Nguyễn Việt Chiến, Tổ quốc cũng được cảm nhận từ những hình ảnh gần gũi, thân thương: “Tổ quốc là tiếng mẹ Ru ta từ trong nôi” Tổ quốc gắn với tiếng mẹ, lời ru, tuổi thơ và sự nuôi dưỡng tinh thần. Tiếng mẹ không chỉ là âm thanh đầu đời mà còn là cội nguồn văn hóa, tình yêu thương và nhân cách con người. Tổ quốc còn hiện lên trong vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ và lịch sử hi sinh: “Tổ quốc là mây trắng Trên ngút ngàn Trường Sơn Bao người con ngã xuống Cho quê hương mãi còn” Hình ảnh Trường Sơn gợi không gian đất nước rộng lớn, gợi những năm tháng chiến tranh gian khổ. Những người con ngã xuống đã làm nên sự sống còn của quê hương. Vì thế, Tổ quốc trong thơ Nguyễn Việt Chiến vừa đẹp đẽ vừa thiêng liêng, được đánh đổi bằng máu xương của bao thế hệ. Bên cạnh đó, Tổ quốc còn là vẻ đẹp bình dị của làng quê Việt Nam: “Tổ quốc là cây lúa Chín vàng mùa ca dao Như dáng người thôn nữ Nghiêng vào mùa chiêm bao” Cây lúa, ca dao, người thôn nữ là những hình ảnh đậm chất dân gian, gợi vẻ đẹp mềm mại, trù phú, yên bình của đất nước. c. So sánh điểm giống nhau Hai đoạn thơ đều thể hiện Tổ quốc bằng những hình ảnh gần gũi, quen thuộc: người mẹ, tiếng nói, làng quê, văn hóa dân gian, truyền thống lịch sử. Cả hai nhà thơ đều không nhìn Tổ quốc như một khái niệm trừu tượng mà cảm nhận Tổ quốc từ những điều thân thương trong đời sống hằng ngày. Cả hai đoạn thơ
  3. đều sử dụng kiểu câu định nghĩa “Tổ quốc là...” giúp hình tượng Tổ quốc hiện lên cụ thể, giàu cảm xúc. Giọng thơ đều tha thiết, trân trọng, thể hiện tình yêu sâu nặng với đất nước. d. So sánh điểm khác nhau Ở đoạn thơ của Nguyễn Sỹ Đại, Tổ quốc được cảm nhận đậm nét qua nguồn cội sinh thành, gia đình, cộng đồng và chiều sâu văn hóa dân tộc. Nhà thơ nhấn mạnh đến tiếng Việt, truyện cổ, truyền thuyết, ca dao, Truyện Kiều như những yếu tố làm nên linh hồn Tổ quốc. Trong khi đó, đoạn thơ của Nguyễn Việt Chiến lại khắc họa Tổ quốc cô đọng hơn qua tiếng mẹ, thiên nhiên Trường Sơn, sự hi sinh của những người con và vẻ đẹp đồng quê. Tổ quốc trong thơ Nguyễn Việt Chiến vừa gần gũi, mềm mại, vừa mang âm hưởng trang trọng, hào hùng. e. Đánh giá Hai đoạn thơ đã góp phần làm phong phú hình tượng Tổ quốc trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Mỗi nhà thơ có cách cảm nhận riêng nhưng đều gặp nhau ở tình yêu nước sâu sắc. Qua đó, người đọc hiểu rằng Tổ quốc không chỉ là lãnh thổ, núi sông mà còn là mẹ, là tiếng nói, là văn hóa, là lịch sử, là máu xương và khát vọng của bao thế hệ. Bài văn tham khảo Tổ quốc là hình tượng thiêng liêng, sâu nặng trong tâm hồn mỗi người Việt Nam. Trong thơ ca, Tổ quốc không chỉ được nhìn qua lãnh thổ, biên cương mà còn được cảm nhận từ những điều bình dị, thân thương nhất của đời sống. Qua hai đoạn thơ của Nguyễn Sỹ Đại và Nguyễn Việt Chiến, hình tượng Tổ quốc hiện lên vừa gần gũi, ấm áp, vừa lớn lao, thiêng liêng. Trong đoạn thơ của Nguyễn Sỹ Đại, Tổ quốc trước hết được cảm nhận từ nguồn cội sinh thành của con người. Nhà thơ viết: “Tổ quốc là khi mẹ sinh con / Có cái mũi dọc dừa, màu da vàng như nắng”. Tổ quốc không phải điều xa xôi mà bắt đầu từ hình hài, dáng vóc, màu da của mỗi con người Việt Nam. Tổ quốc còn gắn với người mẹ, với bếp lửa, với tình làng nghĩa xóm: “Đêm trở dạ có bà con chòm xóm / Bếp lửa hồng ấm suốt cả đời ta”. Những hình ảnh ấy làm cho Tổ quốc hiện lên thật ấm áp, nghĩa tình, thấm đẫm tình mẫu tử và tình cộng đồng. Không chỉ vậy, Tổ quốc trong thơ Nguyễn Sỹ Đại còn là chiều sâu văn hóa dân tộc. Hình ảnh Thánh Gióng gợi truyền thống yêu nước, tinh thần anh hùng chống giặc ngoại xâm; hình ảnh cô Tấm gợi vẻ đẹp nhân hậu, dịu dàng của con người Việt Nam. Đặc biệt, nhà thơ còn cảm nhận Tổ quốc qua tiếng Việt, qua câu hát, qua Truyện Kiều. Tiếng Việt trở thành linh hồn dân tộc, nơi lưu giữ lịch sử, văn hóa và tâm hồn Việt Nam qua bao tháng năm thăng trầm. Trong đoạn thơ của Nguyễn Việt Chiến, Tổ quốc cũng được thể hiện bằng những hình ảnh gần gũi và giàu sức gợi. Tổ quốc trước hết là “tiếng mẹ / Ru ta từ trong nôi”. Tiếng mẹ là âm thanh đầu đời, là lời ru nuôi dưỡng tâm hồn, là cội nguồn của tình yêu thương và nhân cách. Từ tiếng mẹ, hình tượng Tổ quốc mở rộng ra không gian thiên nhiên, lịch sử: “Tổ quốc là mây trắng / Trên ngút ngàn Trường Sơn / Bao người con ngã xuống / Cho quê hương mãi còn”. Hình ảnh Trường Sơn gợi vẻ đẹp hùng vĩ của đất nước, đồng thời gợi nhắc những hi sinh lớn lao của các thế hệ đi trước. Tổ quốc vì thế không chỉ đẹp mà còn thiêng liêng, được giữ gìn bằng máu xương của biết bao người con. Bên cạnh vẻ đẹp hào hùng, Tổ quốc trong thơ Nguyễn Việt Chiến còn mang vẻ đẹp bình dị của làng quê: “Tổ quốc là cây lúa / Chín vàng mùa ca dao / Như dáng người thôn nữ / Nghiêng vào mùa chiêm bao”.
  4. Cây lúa, ca dao, người thôn nữ là những hình ảnh quen thuộc của văn hóa Việt Nam, gợi sự mềm mại, trù phú và nên thơ của quê hương đất nước. Hai đoạn thơ có nhiều điểm gặp gỡ. Cả Nguyễn Sỹ Đại và Nguyễn Việt Chiến đều cảm nhận Tổ quốc từ những điều gần gũi: người mẹ, tiếng nói, làng quê, văn hóa dân gian và truyền thống lịch sử. Cả hai đều sử dụng kiểu câu định nghĩa “Tổ quốc là...” để cụ thể hóa một khái niệm lớn lao. Nhờ vậy, Tổ quốc hiện lên không khô cứng, trừu tượng mà trở nên thân thương, có hình ảnh, có âm thanh, có linh hồn. Tuy nhiên, mỗi đoạn thơ vẫn có nét riêng. Nguyễn Sỹ Đại nghiêng về khám phá Tổ quốc trong nguồn cội sinh thành, trong tình làng nghĩa xóm và kho tàng văn hóa dân tộc như Thánh Gióng, cô Tấm, tiếng Việt, Truyện Kiều. Còn Nguyễn Việt Chiến lại khắc họa Tổ quốc cô đọng qua tiếng mẹ, Trường Sơn, sự hi sinh của những người con và vẻ đẹp đồng quê. Nếu đoạn thơ của Nguyễn Sỹ Đại giàu chất văn hóa, dân gian thì đoạn thơ của Nguyễn Việt Chiến vừa tha thiết, gần gũi vừa trang trọng, hào hùng. Qua hai đoạn thơ, hình tượng Tổ quốc hiện lên phong phú và xúc động. Tổ quốc không chỉ là núi sông, lãnh thổ mà còn là mẹ, là tiếng Việt, là ca dao, là cây lúa, là lịch sử hi sinh và những giá trị văn hóa truyền đời. Hai nhà thơ đã giúp người đọc thêm yêu, thêm tự hào và thêm ý thức trách nhiệm đối với quê hương, đất nước.
  5. ĐỀ SỐ 3 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2025 ĐỒNG NAI MÔN: NGỮ VĂN Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản: 23.11.69 Hôm nay là ngày sinh của Phương. Em oi! Không phải chị nhớ em và ngày sinh của em vì ngọn gió lạnh và mưa phùn từ phương Bắc thổi về gây nên cái lạnh giữa núi rừng này đâu. Bao giờ cũng vậy, giữa hoàn cảnh nào cũng vậy, chị cũng vẫn giữ trọn trong lòng những kỷ niệm êm ấm của gia đình ta. Nhớ sao những ngày chủ nhật, những ngày kỷ niệm sinh nhật nhà mình đông vui bè bạn đến chúc mừng và những bữa liên hoan đậm đà ấm cúng. [...] Em tôi không thể nào tưởng tượng được ngày này chị đã làm gì. Ngày nay u? Sáng ra vác rựa đi làm, buổi trua xách thuốc trên vai theo hai chú dẫn đường đi thăm bệnh cho một đồng chí cán bộ. Trên đường đi gặp những người bộ đội, chị đã ngập ngừng đứng lại bên người bạn đông hương mà không biêt nói gì. Họ đang bẻ măng nứa, nước da xanh tái nói với chị rằng họ đã bị đói và sốt rét lâu ngày. Cuộc kháng chiến vĩ đại này viết bằng xương máu và tuổi xuân của bao người, em có biết thế không em? 26.11.69 Thêm một tuổi đời, thêm một năm lưa khói trên chiến trường miền Nam gian khổ. Chúc Thùy vững bước trên đường vinh quang mà Th. đã chọn. Th. ơi, Th. không buồn khi lễ kỷ niệm sinh nhật của Th. chỉ có lá rừng ướt đẫm trong mưa dào dạt khẽ nói với Th. những lời thân mến. Th. không buồn khi bản nhạc mừng Th. hôm nay chỉ có dòng suối ào ào tuôn nước về xuôi. Và căn phòng mà Th. đang ngồi để ghi lên trang vở đời của mình thêm một trang mới chính là chiếc hầm chật chội ướt át này. Th. không buồn vì sau này mở lại những trang sổ này, Th. sẽ tự hào về những năm tuổi trẻ của mình. Ở đây Th. không có những giây phút ấm áp giữa bạn bè bên lọ hoa nhỏ với những bông hồng thơm ngát để trên bàn. Ở đây Th. không có cái hạnh phúc đi cạnh người yêu trên con đường vắng, khi ánh chiều tím dần trong buổi hoàng hôn. Ở đây Th. thiếu nhiều nhưng cũng rất đầy đủ. Cho nên Th. hãy cười đi, hãy vui đi, khi vở đờ mỏ sang một trang mới đầy vinh quang đẹp đẽ. (Trích Nhật ký Đặng Thùy Trâm, Nxb Hội nhà văn, 2005, tr.197-198) Chú thích 1. "Nhật ký Đặng Thùy Trâm" là cuốn nhật ký nổi tiếng của Đặng Thùy Trâm (1942-1970), một nữ bác sĩ và liệt sĩ quê ở Hà Nội. Cuốn nhật ký này ghi lại những suy nghĩ, cảm xúc và trải nghiệm của chị trong thời gian hoạt động ở chiến trường miền Nam. 2. Th. (Thùy) là viết tắt của tên Đặng Thùy Trâm; Phương là em gái của người viết (Đặng Phương Trâm). Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Chỉ ra một dấu hiệu để xác định tính phi hư cấu của văn bản nhật ký trên. Câu 2. Những dòng nhật ký ngày sinh nhật của "Th." được viết trong không gian cụ thể nào?
  6. Câu 3. Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ thân mật được sử dụng trong đoạn nhật ký ngày 23.11.69. Câu 4. Trong những câu văn sau, tình cảm, thái độ của Đặng Thùy Trâm được thể hiện như thế nào? "Ở đây Th. không có những giây phút ấm áp giữa bạn bè bên lọ hoa nhỏ với những bông hồng thơm ngát để trên bàn. Ở đây Th. không có cái hạnh phúc đi cạnh người yêu trên con đường vắng, khi ánh chiều tím dần trong buổi hoàng hôn. Ở đây Th. thiếu nhiều nhưng cũng rất đầy đủ. Cho nên Th. hãy cười đi, hãy vui đi, khi vỏ đời mỏ sang một trang mới đầy vinh quang đẹp đẽ." Câu 5. Từ suy ngẫm "Th. sẽ tự hào về những năm tuổi trẻ của mình", anh/chị nhận thấy tuổi trẻ ngày nay cần làm gì để có thể tự hào về bản thân? II. VIẾT ( 6.0 điểm) Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp của nhân vật "Th." trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu. Câu 2 (4.0 điểm) Trong bài viết nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: "Quá khứ là để ghi nhớ, để tri ân và để rút ra bài học. Tương lai là để cùng nhau xây dựng kiến tạo và phát triển." (Theo trang Thông tin Chính phủ). Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về trách nhiệm của tuổi trẻ trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại để "kiến tạo và phát triển" đất nước. • Thí sinh không được sử dụng tài liệu. • Giám thị không giải thích gì thêm.
  7. ĐÁP ÁN I. Hướng dẫn chung Giám khảo chấm bài kiểm tra cần lưu ý những điểm sau: 1. Về cách chấm: • Do đặc thù bộ môn, giám khảo cần vận dụng linh hoạt đáp án và thang điểm khi chấm bài cho học sinh. •Ở một số mục, đáp án chỉ nêu mức điểm chính, việc chi tiết hóa điểm số cho mỗi ý phải được thống nhất trong Hội đồng chấm kiểm tra nhưng không được thay đổi tổng điểm của mỗi mục. • Chấm kỹ lưỡng, chính xác nhưng cần có độ mở nhất định để đánh giá đúng năng lực, sự sáng tạo của học sinh. Phần Đọc hiểu chấm theo đáp án và hướng dẫn chấm. Phần Viết khuyến khích cho điểm cao những bài viết có sự sáng tạo, cảm xúc, bố cục rõ ràng, ý tứ mạch lạc, làm bật được yêu cầu của đề. Cần lưu ý: các ý/nội dung và cách sắp xếp ý được đề xuất trong đáp án chỉ là một hướng gợi ý; học sinh có thể có những ý kiến, quan điểm riêng và cách sắp xếp ý theo một trình tự khác, miễn hợp lí đều phải công nhận và trân trọng. 2. Cách tính điểm toàn bài kiểm tra: Bài kiểm tra được chấm theo thang điểm 10,0 . Chấm riêng từng câu, tổng điểm toàn bài kiểm tra làm tròn số. Ví dụ: 5,25=5,3; 5,75=5,8 II. Hướng dẫn chi tiết, đáp án và biểu điểm Phần Câu Nội dung/Kỹ năng cần đạt Điểm Đọc hiểu 4,0 ĐỌC 1 Dấu hiệu xác định tính phi hư cấu của văn bản nhật ký trên: HIỂU - Những sự kiện được ghi chép có ngày tháng cụ thể: 23.11.69; 26.11.69. - Nhân vật là những con người có thật: Th. (người viết) là nữ bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm; Phương là em gái của chị. - Người viết trực tiếp kể lại những suy nghĩ, cảm xúc và trải nghiệm của bản 0.5 thân (về ngày sinh nhật). Hướng dẫn chấm: - Trả lời được 01 trong 03 ý trên: 0.5 điểm - Trả lời không đúng hoặc không trả lời: 0.0 điểm. Những dòng nhật ký ngày sinh nhật của Th. được viết trong không gian cụ thể: chiếc hầm chật chội ướt át 2 Hướng dẫn chấm: 0.5 - Trả lời như đáp án: 0.5 điểm - Trả lời không đúng hoặc không trả lời: 0.0 điểm. Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ thân mật được sử dụng trong đoạn nhật ký ngày 23.11.69. 3 1.0 - Sử dụng đại từ xưng hô trong giao tiếp hằng ngày: Em, chị, em tôi, ... - Từ ngữ có sắc thái khẩu ngữ, trợ từ, thán từ; sử dụng từ địa phương: ơi, ư; bẻ
  8. (măng), bữa (liên hoan),... - Câu rút gọn, câu đặc biệt: Em ơi!, Ngày nay u? Hướng dẫn chấm: - Trả lời 2/3 ý trong đáp án: 1.0 điểm - Trả lời 1/3 ý trong đáp án: 0.5 điểm - Trả lời không đúng hoặc không trả lời: 0.0 điểm. Tình cảm, thái độ của Đặng Thùy Trâm: - Thấu hiểu và chấp nhận sự thiếu thốn, khó khăn của cuộc sống chiến tranh. - Lạc quan, bản lĩnh vượt lên những nỗi buồn của sự cô đơn và cảm xúc cá nhân. - Tự tin vào sự lựa chọn con đường dấn thân gian khổ mà cũng đầy vinh quang. 4 1.0 Hướng dẫn chấm: - Trả lời 2/3 ý trong đáp án: 1.0 điểm - Trả lời 1/3 ý trong đáp án: 0.5 điểm - Trả lời không đúng hoặc không trả lời: 0.0 điểm. 5 Để có thể tự hào về bản thân, tuổi trẻ ngày nay cần: 1.0 - Giữ gìn phẩm chất, đạo đức; sống tử tế, yêu thương, sẻ chia, ... - Can đảm vượt ra khỏi lối mòn để tạo ra những giá trị mới hữu ích cho cộng đồng. - Ra sức học tập, tự nguyện dấn thân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. ... Hướng dẫn chấm: - Trả lời 2/3 ý tương đương đáp án: 1.0 điểm - Trả lời 1/3 ý tương đương trong đáp án: 0.5 điểm - Trả lời không đúng hoặc không trả lời: 0.0 điểm. * Lưu ý: Giáo viên linh hoạt chấm điểm dựa trên mức độ thuyết phục của câu trả lời. Viết 6.0 Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp của nhân vật "Th." 2.0 trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu. a. Xác định được yêu cầu, hình thức và dung lượng của đoạn văn Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng (khoảng 200 chữ, cộng trừ 100 chữ) 1 0.25 của đoạn văn. Học sinh có thê trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận 0.25 Vẻ đẹp của nhân vật "Th." c. Viết đoạn văn bảo đảm các yêu cầu Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và bằng 1.0 chứng trên cơ sở bảo đảm những nội dung sau: - Người chị giàu lòng yêu thương em gái, giàu tình cảm thương nhớ gia đình,
  9. trân trọng hạnh phúc bình yên bên gia đình, bạn bè. - Người con gái yêu nước, có lí tưởng cao đẹp, biết dấn thân và tự nguyện hi sinh cho đất nước. - Người con gái lạc quan, mạnh mẽ làm chủ hoàn cảnh sống và luôn thiêt tha tình yêu đời. -... Hướng dẫn chấm: - Học sinh đáp ứng được 3 ý tương đương như đáp án: 1.0 điểm. - Học sinh đáp ứng được 2/3 ý tương đương như đáp án: 0.75 điểm. - Học sinh đáp ứng được 1/3 ý tương đương như đáp án: 0.5 điểm. - Học sinh không khái quát được luận điểm để làm rõ vẻ đẹp của nhân vật mà chỉ diễn đạt chung chung: 0.25 điểm. d. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn 0.25 văn. e. Sáng tạo 0.25 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ. Hướng dẫn trừ điểm cho toàn đoạn: Trừ điểm mắc lỗi (diễn đạt lủng củng, sai chính tả, dùng từ và chấm câu sai, chữ viết cẩu thả): - Trừ 0.5 điểm nếu đoạn văn mắc từ 5-7 lỗi; - Trừ 0.75 điểm nếu đoạn văn mắc từ 8-10 lỗi; - Mắc trên 10 lỗi không cho vượt quá nưa số điểm cả câu. Trong bài viết nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: "Quá khứ là để ghi nhớ, để tri ân và để rút ra bài học. Tương lai là để cùng nhau xây dựng kiến tạo và phát triển." (Theo 2 trang Thông tin Chính phủ). 4.0 Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về trách nhiệm của tuổi trẻ trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại để "kiến tạo và phát triển" đất nước. a. Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ, cộng trừ 200 chữ) 0.25 của bài văn. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Trách nhiệm của tuổi trẻ trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại để "kiến tạo và 0.5 phát triển" đất nước. c. Viết được bài văn nghị luận bảo đảm các yêu cầu Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và bằng 2.5 chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
  10. * Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận. * Thân bài: - Giải thích: + Công nghệ hiện đại là những tiến bộ khoa học kĩ thuật tiên tiến, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây,... để thay đổi cách con người sống, làm 0.5 việc và giao tiếp. + Công nghệ hiện đại là những tiến bộ khoa học kĩ thuật tiên tiến, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây,... để thay đổi cách con người sống, làm việc và giao tiếp. Bàn luận: + Việt Nam hiện nay đang trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa (sự bùng nổ 1.5 của công nghệ, trí tuệ nhân tạo...), đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với từng cá nhân nói riêng và mỗi quốc gia nói chung. + Tuổi trẻ là lực lượng nòng cốt của đất nước, là chủ nhân của tương lai và có nhiều lợi thế trong việc tiếp cận công nghệ hiện đại. + Để ứng dụng được công nghệ hiện đại trong việc kiến tạo và phát triển đất nước, tuổi trẻ cần trang bị kiến thức, cập nhật những tri thức mới, trau dồi kĩ năng thực hành để tạo ra những đột phá trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. + Phê phán: Một bộ phận người trẻ chưa hiểu rõ vai trò, sự ảnh hưởng của công nghệ hiện đại; lạc hậu, bị động trước sự tiến bộ của thời đại,... - Mở rộng vấn đề, trao đổi với ý kiến trái chiều hoặc ý kiến khác: Người trẻ cần ý thức công nghệ hiện đại chỉ là công cụ hỗ trợ; cần làm chủ công nghệ để phát 0.5 huy hiệu quả tối đa, tránh lệ thuộc; ... * Kết bài: Khẳng định vấn đề nghị luận. Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ quan điểm riêng nhưng cần phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. d. Diễn đạt 0.25 Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. e. Sáng tạo 0.5 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ. Hướng dẫn trừ điểm cho toàn bài: Trừ điểm mắc lội (diến đạt lủng củng, sai chính tả, dùng từ và chấm câu sai, chữ viết cẩu thả): - Trừ 0.5 điểm nếu bài văn mắc từ 6-9 lỗi; - Trừ 1.0 điểm nếu bài văn mắc từ 10-13 lỗi; - Mắc trên 13 lỗi không cho vượt quá nưa số điểm cả câu. Tổng điểm 10.0