9 Đề thi thử TN THPT Ngữ văn Sở GD&ĐT Ninh Bình (2023-2026) (Kèm đáp án)
Bạn đang xem 25 trang mẫu của tài liệu "9 Đề thi thử TN THPT Ngữ văn Sở GD&ĐT Ninh Bình (2023-2026) (Kèm đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
9_de_thi_thu_tn_thpt_ngu_van_so_gddt_ninh_binh_2023_2026_kem.docx
Nội dung text: 9 Đề thi thử TN THPT Ngữ văn Sở GD&ĐT Ninh Bình (2023-2026) (Kèm đáp án)
- Phần Câu Nội dung Điểm - Dung lượng: khoảng 200 chữ. Hướng dẫn chấm: - Xác định đúng và tập trung làm rõ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm. - Đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng: 0,25 điểm. - Chưa xác định đúng vấn đề nghị luận, lạc đề; không đáp ứng yêu cầu về đoạn văn và dung lượng: 0 điểm. b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận; sau đây là gợi ý về cách triển khai và một số nội dung cụ thể: b1. Hiểu đúng vấn đề nghị luận - Vùng an toàn: là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thoải mái, quen thuộc II 1 và nằm trong tầm kiểm soát. 0,25 - Bước qua vùng an toàn: là hành động dũng cảm vượt qua sự thận trọng, e ngại của bản thân, bước qua môi trường/công việc/thói quen/mục tiêu/ý tưởng,... cũ để hướng tới một môi trường/công việc/thói quen/mục tiêu/ý tưởng,... mới; đối diện với những thử thách, trải nghiệm mới, chấp nhận rủi ro để thoát khỏi sự trì trệ và tìm kiếm sự phát triển bản thân,... b2. Những điều cần làm để bước qua vùng an toàn nhằm đạt được thành tựu trong cuộc sống. Có thể tham khảo các ý sau: - Thay đổi tư duy, thay đổi cách nghĩ: + Hiểu rõ giá trị của sự thay đổi: tạo ra cái mới, có thể là những bước ngoặt trong cuộc sống, trong công việc và đôi khi chỉ là sự thay đổi trong cách nghĩ, cách sống; + Hiểu rằng sự ổn định kéo dài dễ dẫn đến lối mòn và mất đi động lực sáng tạo; + Hiểu rằng sự thay đổi đôi khi không phải lúc nào cũng tạo ra những kết quả tốt đẹp nhưng chính những thất bại tạm thời lại là bài học quý giá để chúng ta bước tới II 1 thành công,... 1,0 - Thay đổi hành động, thay đổi thói quen, dám làm những điều mà bản thân chưa từng làm và đảm bảo rằng những điều mình làm là đúng, tốt đẹp; dám chịu trách nhiệm về những điều mà chính mình làm. - Biết đặt ra mục tiêu mới và khác với những điều mà bản thân đã từng đặt ra, biết chia nhỏ mục tiêu: bắt đầu bằng những thử thách nhỏ, thay đổi thói quen, học một kỹ năng mới để dần thích nghi với áp lực; chủ động dấn thân: tích cực tham gia các dự án, hoạt động ngoại khóa hoặc các lĩnh vực bản thân chưa từng có kinh nghiệm,... b3. Sáng tạo II 1 - Có những ý tưởng riêng của bản thân và được thể hiện một cách thuyết phục. 0,25 - Có cách diễn đạt trong sáng, chuẩn mực, tinh tế.
- Phần Câu Nội dung Điểm Hướng dẫn chấm: - Làm rõ được ý b1: 0,25 điểm. - Nêu được ý b2: 1,0 điểm. - Nêu được ý b3: 0,25 điểm. Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ so sánh, đánh giá nhân vật II 2 người cha trong hai đoạn trích trong truyện ngắn Cha tôi của Sương Nguyệt 4,0 Minh và Phan Thị Vàng Anh. Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau: a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về dung lượng và sử dụng lí lẽ, bằng chứng. - Xác định đúng vấn đề nghị luận: so sánh, đánh giá nhân vật người cha ở hai đoạn trích trong truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh và Phan Thị Vàng Anh. II 2 - Dung lượng: khoảng 600 chữ. 1,0 - Lí lẽ, bằng chứng: trong hai đoạn trích. Hướng dẫn chấm: - Xác định đúng và tập trung làm rõ vấn đề nghị luận: 0,5 điểm. - Đảm bảo yêu cầu về dung lượng: 0,25 điểm. - Đảm bảo yêu cầu về lí lẽ, bằng chứng: 0,25 điểm. b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí, đảm bảo kĩ năng của bài văn nghị luận; sau đây là gợi ý về cách triển khai và một số nội dung cụ thể: II 2 0,5 b1. Viết được mở bài, kết bài cho bài văn - Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận. - Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận. b2. Giới thiệu khái quát hai nhân vật trong hai đoạn trích Giới thiệu nhân vật người cha trong hai đoạn trích: hoàn cảnh, công việc, đời sống, II 2 0,25 tính cách; dù là những người có địa vị ngoài xã hội nhưng rất tình cảm, ấm áp trong cách ứng xử với con cái trong gia đình. b3. So sánh nhân vật người cha trong hai đoạn trích Điểm tương đồng: cả hai người cha đều dành cho con tình yêu dịu dàng, sâu sắc: II 2 yêu chiều, quan tâm đến cảm xúc của con như dắt con đi chơi trên bờ đê; ngừng 1,5 ngay khi con nhắc nhở việc uống rượu; có những lúc không giấu nổi sự yếu lòng trước con: quay lại ôm choàng lấy con lúc chia tay, sụt sịt khóc đầy ủy mị khi biết con vất vả,...; đều là hiện thân của tình phụ tử giản dị, thiêng liêng khiến những đứa
- Phần Câu Nội dung Điểm con vừa yêu thương vừa tự hào về mình; hai người cha đều được miêu tả từ điểm nhìn của đứa con - người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng “tôi” nên hiện lên chân thực, gần gũi, chân dung người cha được khắc họa sống động với những chi tiết giản dị, tình huống đời thường. Điểm khác biệt: - Người cha trong Cha tôi của Sương Nguyệt Minh: là người lính mạnh mẽ, quyết đoán, biết kìm nén tình cảm cá nhân để thực hiện nhiệm vụ: quả quyết rời đi thật nhanh, không ngoái đầu nhìn lại,...; phẩm chất, tính cách nhân vật được thể hiện rõ nét trong tình huống chia tay với vợ con để lên đường. - Người cha trong Cha tôi của Phan Thị Vàng Anh: người nghệ sĩ giàu tình cảm, nóng tính, nghiêm khắc với bản thân nhưng yêu chiều con: dịch hộ bài trong lúc con ngủ gật bên cạnh,...; tính cách nhân vật chủ yếu được bộc lộ qua những chi tiết giản dị trong cuộc sống sinh hoạt đời thường. Lí giải nguyên nhân của sự tương đồng và khác biệt: - Nguyên nhân của sự tương đồng: sự gặp gỡ về đề tài, cảm hứng: đề tài gia đình, tình cảm yêu thương, biết ơn dành cho người cha; sự chi phối của thể loại, bút pháp: thể loại truyện ngắn hiện đại, nhân vật được thể hiện thông qua các sự việc, chi tiết tiêu biểu,... - Nguyên nhân của sự khác biệt: lựa chọn bối cảnh, nhân vật: Sương Nguyệt Minh viết về sự lựa chọn của người lính trong bối cảnh chiến tranh và hậu chiến, Phan Thị Vàng Anh viết về người cha trong cuộc sống đời thường, mỗi nhân vật hiện lên với diện mạo và tính cách riêng; phong cách sáng tác: cách kể chuyện của Sương Nguyệt Minh gần gũi với kiểu tự sự truyền thống; Phan Thị Vàng Anh lại có giọng điệu và lối viết hiện đại,... b4. Đánh giá, mở rộng vấn đề nghị luận - Trong đoạn trích của Sương Nguyệt Minh, người cha là biểu tượng của lí tưởng và hi sinh. Trong đoạn trích của Phan Thị Vàng Anh, người cha là hình ảnh đời II 2 thường, giản dị. 0,25 - Hai đoạn trích giúp người đọc thấu hiểu sâu sắc hơn về tình yêu của cha - một tình yêu thầm lặng, bền bỉ, luôn là điểm tựa vững chãi nhất cho những đứa con, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. b5. Sáng tạo - Có những ý tưởng riêng, có tính thuyết phục. - Có cách diễn đạt trong sáng, chuẩn mực, tinh tế. II 2 0,5 Hướng dẫn chấm: - Nếu được ý b1: 0,5 điểm.
- Phần Câu Nội dung Điểm - Nếu được ý b2: 0,25 điểm. - Nếu được ý b3: 1,5 điểm. - Nếu được ý b4: 0,25 điểm. - Nếu được ý b5: 0,5 điểm. Tổng điểm 10,0
- ĐỀ SỐ 3 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2026 NINH BÌNH MÔN: NGỮ VĂN LẦN 3 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: (Tóm tắt bối cảnh: Sẻ Sáo Lin là một thổ ty giàu có, quyền lực ở miền núi, có tới 9 bà vợ, sống trong cảnh xa hoa, hưởng lạc vô độ. Dưới quyền Lin, dân chúng bị bóc lột nặng nề nhưng vẫn cam chịu. Ở tuổi xế chiều, Lin bắt đầu nhận ra dù giàu có quyền lực đến đâu cũng không thắng được móng vuốt của thời gian. Những giấc mơ về cái chết và lời phán của thầy mo khiến hắn hoang mang, lo sợ. Từ đó, Lin tìm mọi cách để kéo dài sự sống: cúng bái, dùng thuốc, tìm thầy, luyện phép... Cuối cùng, một phương sĩ xuất hiện, hứa hẹn mang đến linh đan trường sinh bất tử.) Chính tay phương sĩ nọ pha trộn các vật phẩm quý, gồm tám chục lượng vàng vụn, tám lượng thủy ngân, một chỉ hùng hoàng và một chỉ thục hoàng. Pha trộn xong, cũng chính tay phương sĩ đặt hỗn hợp đó ở giữa lòng đỉnh, rồi khoét một lỗ trũng đổ thủy ngân vào. Tiếp đó, đậy chặt, gắn mép đỉnh bằng hợp kim thiếc và bắt đầu nổi lửa. Lửa lò cháy thâu đêm suốt sáng! Không một phút ngừng nghỉ, ngày này qua ngày khác, lòng lò lúc nào cũng rừng rực đỏ khè. Toàn bộ số người trong ấp, từ bọn lính dõng đến đám gái xòe, lũ tôi tớ chăn dê, chăn ngựa, hầu hạ trong nhà, thảy đều được huy động phục dịch cho việc bào chế thần dược, dựng lều đại sạp ăn ngủ la liệt trên sân. Củi than dự trữ cho mấy mùa đông đốt sạch mà vẫn chưa đủ độ tinh luyện. Miệng lò như miệng con quái vật tham lam vô độ. Lại còn phải huy động than củi của dân quanh vùng. Chưa đủ! Rỡ cả hàng rào chống cướp vây quanh các làng Giáy cổ, cũng vẫn còn thiếu. Cực chẳng đã, phải ngả cây lớn trong rừng thờ thần Doong Xia, tức vùng riêng cấm, xưa nay hễ ai động giao là bị thần quở phạt nặng nề. Cũng lại chưa đủ. Cả một vùng đồng thấp đã trơ trụi, nay lại sức dân lên các bản Mán Đỏ, U Ní Đen trên rẻo núi cao, góp cây củi. Củi khô từng chúa¹ dự phòng mùa đông giá hết, lại hạ cả cây tươi trên rừng cao kiệt nước để đốt được ngay, rồi chất lên lưng người lưng ngựa ròng ròng chảy về kịp thời tiếp lửa. Cả một vùng núi non trên cao dưới thấp giờ đây trụi trọc, hoang tàn, nhìn thấy cả bóng chim ở chân núi xa. Khói từ lò nấu bốc lên ngày một đen đặc, u mờ cả trang ấp, hư ám cả nhật nguyệt. Không hiểu khói có chứa tà khí gì mà không sao cất mình lên được, cứ tụ lại thành từng đám phủ âm u cả một vùng sơn địa, u ám cả mặt người. (...) Ngày thứ tám mốt, hạn cuối cùng của việc hóa chế đã tới. Củi đốt đến chứa cuối cùng. Than vạc dần. Đỉnh đồng đỏ lừ, rồi ngả màu xám hồng, xám tro. Đợi đến xương xuống, đúng giờ Tỵ, lúc trời mở, phương sĩ nọ mới bắc thang leo lên nóc đỉnh, thận trọng mở nắp. Hắt hơi liên tục một tràng và xây xẩm mặt mày, y tụt xuống thang xuống đất, lăn ra bất tỉnh. Gần sáng hồi tỉnh, y mới tiếp tục công việc thu hồi linh dược. Kết quả thu được không phụ công sức bỏ ra.
- ¹ Chúa: Tiếng địa phương ở miền núi phía Bắc, có nghĩa là: đống, bó... Trong lòng đỉnh giờ đây, sau gần ba tháng trời liên tục nung nấu, trai tương phối, giao hòa, biến hóa, chọn luyện, kết tinh, còn lại một vùng nhỏ chất lỏng vàng óng ánh, sánh lạnh. Chất lỏng nọ được múc vào cốc bạc, trịnh trọng đưa lên phòng riêng của quan lớn họ Sẻ. Đựng trong cốc bạc, chất nọ càng có vẻ biến huyễn kỳ lạ, như một phép màu tự hóa của vạn vật. Lin sung sướng, rên rỉ, nhấc cốc tiên dược, nhìn chín phu nhân quây quần, ánh mắt không giấu nổi sự đắc thắng. - Các nàng, ta trông thấy linh đan này giống như chất sinh khí vĩnh tồn của ta. Nào, đêm nay... sau đó là cuộc đổi đời của ta... Nói xong, Lin ghé môi, nâng đít cốc, uống một hơi, cạn cốc thuốc tiên. * Đám ma Lin thật to! Mười hai con trâu bị giết thịt là mười hai cái mũ che nắng cho linh hồn Lin đi dưới cõi âm. Thầy mo Dần Râu đi trên mấy chục cái lưỡi cày nung đỏ, rồi dẫn chín người vợ của Lin đi qua đống than hồng dài chín mét, tiễn đưa Lin xuống suối vàng. Lin chết sau một đêm ói mửa, rên la quằn quại, ỉa đái dầm dề, đau khắp mình mẩy, rồi bại xuội tứ chi, mặt đen tím dần. Y chết sớm hơn tuổi trời cho một năm. Mấy kẻ thuộc hạ trung thành sau đám tang Lin, ngồi với nhau, cùng sửng sốt kêu trời: “Sao bậc vương quyền lại có lúc nhiễu tâm, mê muội ngông cuồng đến thế!” Sực nhớ, hồi thì không còn thấy phương sĩ, kẻ chế ngự thời gian, gã chống trời nọ đâu nữa. Có người nói y là thuộc hạ của ông thổ ty bên miền Đông, kẻ thâm thù không đội trời chung của cha con họ Sẻ. Đôi bên đã có lần đào mồ cuốc mả tổ tiên nhau và bắt người trong họ của nhau đội đũa đen, tế sống. Nhưng nhiều người nói: làm gì có phương sĩ nào, chưa ai thấy, gặp bao giờ cả. Chưa một ai thấy y, gặp y bao giờ cả. Lại có người nói: việc chế hóa linh dược là do thầy mo Dần Râu đảm nhiệm. Ông này vốn là nhân tình của bà tư quan lớn họ Sẻ. 15/11/1991 (Trích Móng vuốt thời gian, Ma Văn Kháng, 100 truyện ngắn Ma Văn Kháng, Tập 1, NXB Hội Nhà văn, 2017, tr.50-55) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Xác định ngôi kể trong đoạn trích. Câu 2. Trong đoạn trích, linh đan trường sinh bất tử được nhân vật phương sĩ pha trộn từ những nguyên liệu nào? Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp liệt kê được sử dụng trong câu văn: Toàn bộ số người trong ấp, từ bọn lính dõng đến đám gái xòe, lũ tôi tớ chăn dê, chăn ngựa, hầu hạ trong nhà, thảy đều được huy động phục dịch cho việc bào chế thần dược, dựng lều đại sạp ăn ngủ la liệt trên sân. Câu 4. Nêu tác dụng của các yếu tố kì ảo được sử dụng trong đoạn trích. Câu 5. Từ hình tượng linh đan trong đoạn trích, anh/chị hãy nêu những việc cần làm để nhận diện đúng giá trị của một sự việc trước khi tin tưởng và hành động. (Trả lời trong khoảng 5-7 dòng) II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm)
- Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích kết cục của nhân vật Sẻ Sáo Lin trong đoạn trích Móng vuốt thời gian (Ma Văn Kháng) ở phần Đọc hiểu. Câu 2 (4,0 điểm) Đứng trước cái mới, có người kì thị nhưng cũng có người nhanh chóng chấp nhận một cách dễ dãi. Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về hai cách ứng xử trên. ---------- HẾT ----------
- ĐÁP ÁN Phần Câu Nội dung Điểm I Đọc hiểu 4,0 Ngôi kể trong đoạn trích: Ngôi thứ ba. I 1 Hướng dẫn chấm: 0,5 - Trả lời như đáp án: 0,5 điểm. - Trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm. Linh đan được pha trộn từ những nguyên liệu: vàng vụn, thủy ngân, hùng hoàng, thư hoàng. I 2 Hướng dẫn chấm: 0,5 - Trả lời đúng như đáp án: 0,5 điểm. - Trả lời đúng 2-3 nguyên liệu: 0,25 điểm. - Trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm. - Biện pháp liệt kê những người tham gia vào việc luyện linh đan: lính dõng, gái xòe, tôi tớ chăn dê, chăn ngựa, người hầu trong nhà. - Tác dụng: + Làm nổi bật quy mô lớn, mức độ khốc liệt, triệt để của việc phục dịch: tất cả mọi tầng lớp trong ấp đều bị huy động. + Thể hiện thái độ phê phán của tác giả trước sự chuyên chế, bóc lột vô lí, tàn nhẫn của những kẻ thống trị ở miền núi đương thời. I 3 + Tăng tính cụ thể, sinh động, tạo nhịp điệu cho câu văn. 1,0 Hướng dẫn chấm: - Trả lời như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm. - Chỉ ra được biện pháp liệt kê: 0,25 điểm. - Nêu được tác dụng của biện pháp liệt kê: 0,75 điểm; nêu đúng mỗi tác dụng hoặc diễn đạt tương đương: 0,25 điểm. - Trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm. - Các yếu tố kì ảo được sử dụng trong đoạn trích: phương sĩ bí ẩn, linh đan trường sinh bất tử, không khí u ám khi luyện linh đan. - Tác dụng của yếu tố kì ảo: + Tăng tính hấp dẫn, huyền bí cho câu chuyện. I 4 + Góp phần thể hiện rõ chủ đề văn bản: phê phán lòng tham, sự mê muội và niềm 1,0 tin mù quáng vào những điều huyền hoặc, phi lí. Hướng dẫn chấm: - Chỉ ra được các yếu tố kì ảo trong truyện: 0,25 điểm.
- Phần Câu Nội dung Điểm - Nêu được tác dụng của các yếu tố kì ảo: 0,75 điểm; nêu được 2 tác dụng như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 0,75 điểm; nêu được 01 tác dụng như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 0,5 điểm. - Trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm. - Hình tượng “linh đan” trong đoạn trích là biểu tượng cho những ảo vọng phi thực tế, niềm tin mù quáng của con người vào khả năng vượt qua quy luật tự nhiên, từ đó dẫn đến những hậu quả đáng tiếc. - Việc cần làm để nhận diện đúng giá trị của một sự việc trước khi tin tưởng và hành động: Thí sinh có thể đưa ra nhiều giải pháp, cách thức khác nhau nhưng cần đảm bảo tính thuyết phục. Có thể tham khảo: + Cần tìm hiểu thông tin một cách kĩ lưỡng và có kiểm chứng; + Giữ thái độ tỉnh táo, có tư duy phản biện; I 5 + Không chạy theo những điều hào nhoáng, thiếu cơ sở; 1,0 + Biết đối chiếu với thực tiễn và các quy luật khách quan, cân nhắc hậu quả trước khi đưa ra quyết định, Hướng dẫn chấm: - Khái quát được ý nghĩa của hình tượng “linh đan” như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 0,25 điểm. - Nêu được những việc cần làm để nhận diện đúng giá trị của một sự việc trước khi tin tưởng và hành động một cách hợp lí, thuyết phục: 0,75 điểm. - Trả lời sai hoặc không trả lời: 0,0 điểm. II Viết 6,0 Viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ phân tích kết cục của nhân vật Sề II 1 2,0 Sào Lỉn trong đoạn trích “Móng vuốt thời gian” – Ma Văn Kháng. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn. - Vấn đề nghị luận: kết cục của nhân vật Sề Sào Lỉn trong đoạn trích. - Hình thức: có thể trình bày đoạn văn theo lối diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song, - Dung lượng: khoảng 200 chữ. II 1a 0,5 Hướng dẫn chấm: - Xác định đúng và tập trung làm rõ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm. - Đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng: 0,25 điểm. - Chưa xác định đúng vấn đề nghị luận, lạc đề; không đáp ứng yêu cầu về đoạn văn và dung lượng: 0,0 điểm.
- Phần Câu Nội dung Điểm Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận; sau đây là gợi ý về cách triển khai và một số nội dung cụ thể: b1. Phân tích kết cục của nhân vật Sề Sào Lỉn - Kết cục đầy nghịch lí: uống “linh đan” với tham vọng trường sinh nhưng lại chết trong đau đớn, thậm chí chết sớm hơn tuổi trời cho. - Thái độ của mọi người và những đồn đoán sau cái chết của Lỉn cho thấy: thực chất hắn là một kẻ cô độc, bị phản bội và bị khinh khi bởi chính những người gần hắn nhất. b2. Ý nghĩa của kết cục ấy - Phơi bày sự mê muội, ngông cuồng của Sề Sào Lỉn và cái giá phải trả cho những II 1b ảo vọng ấy. 1,5 - Phản ánh quy luật tất yếu: không ai có thể cưỡng lại quy luật của tự nhiên. - Con người cần hướng tới những giá trị tốt đẹp, đích thực của sự sống để vượt qua những giới hạn của thời gian sống, b3. Sáng tạo - Có những ý tưởng riêng của bản thân và được thể hiện một cách thuyết phục. - Có cách diễn đạt trong sáng, chuẩn mực, tinh tế. Hướng dẫn chấm: - Phân tích được ý b1: 0,75 điểm. - Phân tích được ý b2: 0,5 điểm. - Đảm bảo được ý b3: 0,25 điểm. Đứng trước cái mới, có người kì thị nhưng cũng có người nhanh chóng chấp II 2 nhận một cách dễ dãi. Viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ trình bày suy 4,0 nghĩ về hai cách ứng xử trên. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về dung lượng và sử dụng lí lẽ, bằng chứng phù hợp, xác đáng. - Xác định đúng vấn đề nghị luận: cách ứng xử trước cái mới. - Dung lượng: khoảng 600 chữ. - Lí lẽ, bằng chứng: trong thực tế đời sống, sách vở, báo chí, II 2a 1,0 Hướng dẫn chấm: - Xác định đúng và tập trung làm rõ vấn đề nghị luận: 0,5 điểm. - Đảm bảo yêu cầu về dung lượng: 0,25 điểm. - Đảm bảo yêu cầu về lí lẽ, bằng chứng: 0,25 điểm.



