Tuyển tập 4 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Cao Bằng 2022-2026 (Kèm đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Tuyển tập 4 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Cao Bằng 2022-2026 (Kèm đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
tuyen_tap_4_de_thi_thu_tot_nghiep_thpt_mon_ngu_van_so_gddt_c.docx
Nội dung text: Tuyển tập 4 Đề thi thử Tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn Sở GD&ĐT Cao Bằng 2022-2026 (Kèm đáp án)
- ĐỀ SỐ 3 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2024 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MÔN: NGỮ VĂN CAO BẰNG Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích: Đọc đoạn trích: Những căng thẳng của cuộc sống hiện đại - nhịp sống nhanh, sự cạnh tranh và những thay đổi không ngừng nghỉ, đồng thời việc luôn phải "trực tuyến" và "kết nối" có thể tàn phá khả năng tận dụng nguồn lực sáng tạo của ta một cách tự nhiên. Trong thế giới bận rộn này, thời gian rảnh rỗi của chúng ta bị vắt kiệt tới mức ta không có thời gian hay không gian để phát huy khả năng sáng tạo của mình. Tuy nhiên, ta phải cho phép sức sáng tạo được chảy trôi trong cuộc sống nếu ta muốn hạnh phúc và trọn vẹn. Sống một cách sáng tạo có nghĩa là coi cuộc đời như một chuyến hành trình đầy kích thích, nhìn nhận những điều giản đơn, những chuyện thường ngày theo nhiều cách độc đáo. Sức sáng tạo chưa bao giờ quan trọng với thế giới như ngày hôm nay. Ta sống trong một thời kì mà thông tin được sản sinh mỗi ngày với số lượng lớn, được phát sóng ngay lập tức và trên phạm vi toàn cầu. Những gì ta cần là các công cụ để diễn giải những thông tin ấy một cách rõ ràng, sáng tạo nhằm cải tiến, phát triển và sàng lọc những tiếng ồn để tập trung vào điều quan trọng nhất, phớt lờ phần còn lại. Giải quyết vấn đề một cách sáng tạo cho phép ta định nghĩa lại vấn đề như những cơ hội, và khi làm như vậy, ta xác định được những giải pháp sáng tạo có thể dẫn tới thành công lớn. (Trích 7 thói quen đánh thức tiềm năng sáng tạo, Susie Pearl, Thành Bảo Ngọc dịch, NXB Thanh niên, 2023, tr.19-20) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1 (0,75 điểm). Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. Câu 2 (0,75 điểm). Trong đoạn trích, thời gian rảnh rỗi của chúng ta bị vắt kiệt tới mức nào? Câu 3 (1,0 điểm). Câu văn sau giúp anh/chị hiểu gì về việc sống một cách sáng tạo của con người? Sống một cách sáng tạo có nghĩa là coi cuộc đời như một chuyến hành trình đầy kích thích, nhìn nhận những điều giản đơn, những chuyện thường ngày theo nhiều cách độc đáo. Câu 4 (0,5 điểm). Từ những suy ngẫm của tác giả về việc sống một cách sáng tạo trong đoạn trích trên, anh/chị hãy rút ra bài học về lẽ sống cho bản thân. II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Anh/Chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về điều bản thân cần làm để đánh thức tiềm năng sáng tạo của chính mình. Câu 2 (5,0 điểm) Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa..."
- mẹ thường hay kể. Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu (1) Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn (2) Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng Đất Nước có từ ngày đó... (Trích Đất Nước - trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2008, tr.118) (1) Bới (búi) sau đầu: búi tóc thành cuộn sau gáy. (2) Gừng cay muối mặn: thành ngữ dân gian, thường dùng để chỉ tình nghĩa vợ chồng mặn mà, sâu đậm. Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên; từ đó, nhận xét về cách sử dụng các chất liệu văn hóa dân gian của Nguyễn Khoa Điềm được thể hiện qua đoạn thơ. ---------------HẾT---------------
- ĐÁP ÁN I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Câu 1: - Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích: Nghị luận. Câu 2: - Trong đoạn trích, thời gian rảnh rỗi của chúng ta bị vắt kiệt tới mức: "ta không có thời gian hay không gian để phát huy khả năng sáng tạo của mình." Câu 3: - Giữ thái độ sống tích cực, chủ động, xem cuộc sống là một hành trình thú vị để khám phá (chuyến hành trình đầy kích thích). - Có khả năng tìm ra những giá trị mới mẻ, khác biệt từ những thứ quen thuộc, bình dị nhất (nhìn nhận những điều giản đơn, thường ngày theo nhiều cách độc đáo). - Từ đó, làm cho cuộc sống trở nên phong phú, ý nghĩa và không bị nhàm chán. Câu 4: - Cần biết cân bằng giữa nhịp sống hối hả hiện đại và việc dành không gian tĩnh lặng, thời gian rảnh rỗi cho bản thân để nạp lại năng lượng và khơi nguồn sáng tạo. - Sáng tạo không phải điều xa vời, hãy bắt đầu từ việc thay đổi góc nhìn với những sự vật, sự việc quen thuộc hàng ngày. II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm): 1. Mở đoạn: - Nêu vấn đề: Trong nhịp sống hiện đại, việc đánh thức tiềm năng sáng tạo ẩn giấu trong mỗi người là vô cùng cần thiết để thành công. 2. Thân đoạn: - Giải thích ngắn gọn: Tiềm năng sáng tạo là những năng lực, ý tưởng mới mẻ, độc đáo chưa được khai phá bên trong mỗi người. Bàn luận (Giải pháp - Điều cần làm): - Thay đổi tư duy: Dám bước ra khỏi vùng an toàn, không sợ sai lầm, từ bỏ lối mòn tư duy dập khuôn, máy móc. - Tạo không gian cho bản thân: Biết cách ngắt kết nối với "tiếng ồn" của thế giới ảo (mạng xã hội), dành thời gian rảnh rỗi tĩnh tâm để suy nghĩ và cảm nhận. - Trau dồi và quan sát: Không ngừng học hỏi kiến thức đa lĩnh vực; rèn luyện thói quen quan sát đa chiều, tìm kiếm sự mới mẻ từ những điều bình dị nhất. - Phản đề: Phê phán những người lười suy nghĩ, sống thụ động, ỷ lại, bằng lòng với thực tại mà thui chột khả năng sáng tạo. 3. Kết đoạn: Khẳng định lại ý nghĩa của sự sáng tạo và liên hệ hành động thực tế của bản thân. Câu 2 (5,0 điểm): 1. Mở bài: - Giới thiệu tác giả Nguyễn Khoa Điềm và trường ca Mặt đường khát vọng.
- - Giới thiệu đoạn trích Đất Nước và vị trí đoạn thơ (phần mở đầu: lý giải cội nguồn của Đất Nước). - Nêu vấn đề: Vẻ đẹp bình dị, gần gũi của Đất Nước và nghệ thuật sử dụng chất liệu văn hóa dân gian đặc sắc. 2. Thân bài: - Ý 1: Cảm nhận đoạn thơ (Cội nguồn hình thành Đất Nước) + Đất Nước có từ rất lâu đời, gắn với đời sống tâm hồn tuổi thơ: "ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể" -> gợi thế giới cổ tích, truyền thuyết mộng mơ, Đất nước đi ra từ lời ru, câu chuyện của mẹ. + Đất Nước gắn với phong tục tập quán bình dị: "miếng trầu", "tóc bới sau đầu" -> gợi vẻ đẹp văn hóa ngàn đời, lối sống giản dị, truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Việt. + Đất Nước lớn lên trong cuộc trường chinh giữ nước: "biết trồng tre mà đánh giặc" -> gợi truyền thuyết Thánh Gióng, ca ngợi lòng yêu nước và truyền thống chống ngoại xâm kiên cường. + Đất Nước gắn với tình cảm gia đình, đạo lý thủy chung: "gừng cay muối mặn" -> tình nghĩa vợ chồng son sắt, thủy chung, cùng nhau san sẻ ngọt bùi. + Đất Nước hình thành qua quá trình lao động vất vả, tạo dựng cơ nghiệp: Quá trình cất nhà ("cái kèo cái cột thành tên") và làm ra hạt gạo ("một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng") -> Đất nước kết tinh từ mồ hôi, công sức lao động bền bỉ của nhân dân. - Tiểu kết: Đất Nước không phải là khái niệm chính trị trừu tượng mà vô cùng gần gũi, thiêng liêng, hiện diện trong từng nếp sống, hơi thở của mỗi con người. - Ý 2: Nhận xét cách sử dụng chất liệu văn hóa dân gian của tác giả + Đa dạng, phong phú: Sử dụng tổng hợp nhiều yếu tố như truyện cổ tích ("ngày xửa..."), truyền thuyết (Thánh Gióng), phong tục (ăn trầu, bới tóc), ca dao tục ngữ ("gừng cay muối mặn"), thành ngữ ("một nắng hai sương"). + Cách sử dụng sáng tạo: Không trích dẫn nguyên văn mà tác giả chỉ "lấy ý, lấy hồn" của văn học dân gian để nhào nặn lại bằng ngôn ngữ thơ hiện đại. + Hiệu quả nghệ thuật: Tạo ra một không gian nghệ thuật vừa hư ảo vừa chân thực, giọng điệu thơ thâm trầm, trữ tình – triết lý. Từ đó, làm nổi bật tư tưởng cốt lõi của đoạn trích: “Đất Nước của Nhân dân”. 3. Kết bài: - Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ. - Khẳng định tài năng và tấm lòng yêu nước sâu sắc, tinh tế của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.
- ĐỀ SỐ 4 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2022 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MÔN: NGỮ VĂN CAO BẰNG Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích: Sao bà hát những lời da diết Trắng mây bay, ngợp gió những khu rừng Cháu nghe mãi vẫn lạ lùng tiếng Việt Cháu đã đi những tháng năm lửa cháy Chữ "thương" liền với chữ "yêu" Với trùng điệp bạn bè cùng tuổi Chữ "thương" đi cùng chữ "nhớ" Áo quân trang xanh cây lá vườn bà Dân tộc trải xót xa nhiều nỗi khổ Đất chiến hào vẫn đồng đất quê ta Phải thương nhau mới sống được trên đời Máu đồng đội đã thấm vào đất ấy [...] Những đêm thức nghẹn ngào nghe đất gọi Cháu đã đi từ lòng bà ấm áp [...] Để sống hết những vui buồn dân tộc Những hoa bìm hoa súng nở trên ao Đất phù sa vô tận dấu chân người Những ban mai xanh biếc tiếng đàn bầu Những đoàn quân lại ra đi từ đất Bà hiền hậu têm trầu bên chõng nước Bà đứng đó miệng trầu cay thơm ngát Em đi gặt trên cánh đồng cổ tích Vầng yêu thương soi sáng suốt cuộc đời Lúa bàng hoàng chín rực những triền sông... Khắp triền sông vang tiếng trẻ con cười Đất nước đàn bầu Đất nước ban mai... (Trích Đất nước đàn bầu, Lưu Quang Vũ, Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, NXB Hội Nhà văn, 2021, tr.146-149) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1 (0,5 điểm). Đoạn trích được viết theo thể thơ nào? Câu 2 (1,0 điểm). Theo đoạn trích, những hình ảnh nào gắn với những vui buồn dân tộc mà người cháu đã trải qua? Câu 3 (1,0 điểm). Anh/chị hiểu như thế nào về nội dung của những dòng thơ sau? Đất phù sa vô tận dấu chân người Những đoàn quân lại ra đi từ đất Bà đứng đó miệng trầu cay thơm ngát Vầng yêu thương soi sáng suốt cuộc đời Khắp triền sông vang tiếng trẻ con cười Đất nước đàn bầu Đất nước ban mai...
- Câu 4 (0,5 điểm). Nội dung hai dòng thơ sau có ý nghĩa gì với anh/chị? Dân tộc trải xót xa nhiều nỗi khổ Phải thương nhau mới sống được trên đời II. LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải trân trọng những giá trị tinh thần trong cuộc sống mỗi người. Câu 2 (5,0 điểm) Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới. Phối hợp với đá, nước thác reo hò làm thanh viện cho đá, những hòn đá bệ vệ oai phong lẫm liệt. Một hòn ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến. Một hòn khác lùi lại một chút và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào. Ông đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Mặt nước hò la vang dậy quanh mình, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo võ khí trên cánh tay mình. Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền. Có lúc chúng đội cả thuyền lên. Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt. Sóng thác đã đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất... Nhưng ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. Tăng thêm mãi lên tiếng hỗn chiến của nước của đá thác. Nhưng trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái. Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận vòng thứ nhất. Không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật. Ông lái đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Ông đã thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này. [...] Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghì cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. [...] Còn một trùng vây thứ ba nữa. Ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả. Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác. Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được. Thế là hết thác. Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh. Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang cá mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi cá túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi. Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với Sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp đáng nhớ... Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo. (Trích Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân, Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr.188-190) Phân tích nhân vật ông lái đò trong đoạn trích trên; từ đó, nhận xét quan niệm của nhà văn Nguyễn Tuân về vẻ đẹp của người anh hùng trong cuộc sống mới. -------------------- HẾT -------------------- Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
- HƯỚNG DẪN GIẢI I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm) Câu 1 (0,5 điểm): -Thể thơ: Tự do (vì số chữ trong các dòng thơ không đồng nhất, có câu 7 chữ, có câu 8 chữ). Câu 2 (1,0 điểm): - Những hình ảnh gắn với vui buồn dân tộc + Hoa bìm hoa súng nở trên ao. + Ban mai xanh biếc tiếng đàn bầu. + Bà hiền hậu têm trầu bên chõng nước / Em đi gặt trên cánh đồng cổ tích. + Lúa bàng hoàng chín rực những triền sông. + Tháng năm lửa cháy / Trùng điệp bạn bè cùng tuổi. + Áo quân trang / Đất chiến hào / Máu đồng đội. Câu 3 (1,0 điểm): - Sự khẳng định sức sống mãnh liệt, sự trường tồn của đất nước qua bao thế hệ ("Đất phù sa vô tận dấu chân người", "Những đoàn quân..."). - Ngợi ca vẻ đẹp văn hóa truyền thống, tình yêu thương và sự ấm áp của tình người ("Bà đứng đó miệng trầu", "Vầng yêu thương soi sáng"). - Niềm tin vào tương lai tươi sáng, hòa bình và niềm vui rạng rỡ của dân tộc ("vang tiếng trẻ con cười", "Đất nước đàn bầu", "Đất nước ban mai"). Câu 4 (0,5 điểm): - Ghi nhận thực tế đau thương, gian khổ mà dân tộc ta đã phải trải qua trong lịch sử. - Khẳng định chân lý về tình yêu thương, sự đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau chính là sức mạnh cốt lõi, là cội nguồn để dân tộc sinh tồn và vượt qua mọi nghịch cảnh. II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm): - Mở đoạn: Dẫn dắt và nêu vấn đề: Trong nhịp sống hiện đại, việc trân trọng những giá trị tinh thần là điều vô cùng cần thiết đối với mỗi người. - Giải thích: + Giá trị tinh thần là những yếu tố phi vật chất như tình cảm (gia đình, bạn bè), đạo đức, lý tưởng, văn hóa, nghệ thuật, kỉ niệm... - Bàn luận (Vì sao cần trân trọng?): + Làm phong phú đời sống nội tâm, mang lại sự bình yên, hạnh phúc và thanh thản thực sự cho tâm hồn. + Là điểm tựa vững chắc, tạo động lực giúp con người vượt qua những khó khăn, vấp ngã trong cuộc sống. + Gắn kết con người với nhau, tạo dựng một cộng đồng nhân văn, giàu tình thương. + Vật chất có thể tiêu tan nhưng giá trị tinh thần là tài sản vô giá và trường tồn mãi mãi. - Phản đề: Phê phán lối sống thực dụng, chạy theo vật chất, vô cảm, bỏ bê đời sống tâm hồn khiến cuộc sống trở nên trống rỗng. - Kết đoạn: Rút ra bài học: Cần biết cân bằng giữa vật chất và tinh thần; hành động ngay từ việc yêu thương gia đình, gìn giữ văn hóa dân tộc.
- Câu 2 (5,0 điểm): 1. Mở bài: - Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân (phong cách tài hoa, uyên bác) và tùy bút Người lái đò Sông Đà. - Giới thiệu đoạn trích (cuộc chiến vượt thác của ông đò) và nêu vấn đề: Vẻ đẹp trí dũng, tài hoa của ông đò và quan niệm về người anh hùng đời thường. 2. Thân bài: - Khái quát bối cảnh: Cuộc thủy chiến diễn ra không cân sức giữa thiên nhiên hung bạo (đá thác dàn trận, sóng nước reo hò, hung hãn) và con người nhỏ bé trên chiếc thuyền sáu bơi chèo. - Phân tích hình tượng ông lái đò qua 3 trùng vi thạch trận: + Trùng vi thứ nhất (Vẻ đẹp dũng cảm, kiên cường): Sóng thác đánh những đòn hiểm độc, ông đò bị thương "mặt méo bệch đi" nhưng vẫn "cố nén vết thương", "hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái", tiếng chỉ huy vẫn "ngắn gọn tỉnh táo" -> Bản lĩnh vững vàng, sức chịu đựng phi thường. + Trùng vi thứ hai (Vẻ đẹp mưu trí, dày dặn kinh nghiệm): Ông đò "nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá", "thuộc quy luật phục kích". Các hành động chuẩn xác, điêu luyện: "nắm chặt bờm sóng", "ghì cương lái", "phóng nhanh", "lái miết một đường chéo" -> Một vị tướng tài ba, am hiểu đối thủ. + Trùng vi thứ ba (Vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ): Dòng nước hiểm ác hơn nhưng ông đò xử lý vô cùng điệu nghệ. Động tác "phóng thẳng", thuyền "vút qua cổng đá", "như một mũi tên tre xuyên nhanh" -> Đạt đến mức độ nghệ thuật, tự động hóa trong thao tác lao động. - Vẻ đẹp sau khi vượt thác (Sự bình dị, khiêm nhường): + Thác xèo xèo tan trong trí nhớ, đốt lửa nướng ống cơm lam, bàn về cá cược... + Không ai bàn một lời về chiến thắng vừa qua -> Thái độ ung dung, bình thản, coi việc chiến đấu và chiến thắng thiên nhiên là công việc lao động thường ngày. - Nhận xét quan niệm của Nguyễn Tuân về người anh hùng: + Nguyễn Tuân đi tìm vẻ đẹp "vàng mười đã qua thử lửa" của con người Tây Bắc. + Chủ nghĩa anh hùng không chỉ có ở những chiến trường ác liệt mà hiện diện ngay trong cuộc sống lao động vất vả, mưu sinh hàng ngày. + Người anh hùng là những người lao động bình dị, vô danh nhưng có bản lĩnh, dũng cảm, trí tuệ và đặc biệt là tài hoa, điêu luyện trong chính nghề nghiệp của mình. 3. Kết bài: - Khái quát lại nghệ thuật đặc sắc của đoạn trích: ngôn ngữ phong phú, vận dụng kiến thức đa ngành (quân sự, võ thuật, điện ảnh...), nhịp điệu dồn dập. - Khẳng định giá trị hình tượng ông lái đò và đóng góp của Nguyễn Tuân cho nền văn học nước nhà.



